Tkyh.org Sức khỏe là tài sản đầu tiên.

GIẢI ĐÁP SINH HỌCĐÁP ÁN CÂU HỎI 146Tất cả các phân tử sau đây đều sử dụng protein vận chuyển qua màng (carrier protein),...
06/05/2022

GIẢI ĐÁP SINH HỌC

ĐÁP ÁN CÂU HỎI 146

Tất cả các phân tử sau đây đều sử dụng protein vận chuyển qua màng (carrier protein), NGOẠI TRỪ:

1. lysine
2. nước
3. cholesterol
4. glucose

Câu trả lời:

Xin bấm vào đường link bên dưới để xem đáp án

https://www.tkyh.org/giaidapyhoc/giai-dap-sinh-hoc-142-148/

GIẢI ĐÁP BỆNH COVID-19ĐÁP ÁN CÂU HỎI 1Con số “19” trong “COVID-19” ám chỉ điều gì?1. Có 19 biến thể của virut corona (co...
05/21/2022

GIẢI ĐÁP BỆNH COVID-19

ĐÁP ÁN CÂU HỎI 1

Con số “19” trong “COVID-19” ám chỉ điều gì?

1. Có 19 biến thể của virut corona (coronavirus).
2. Có 19 triệu chứng của bệnh do virut corona gây ra.
3. Đây là đại dịch virut corona lần thứ 19.
4. Virut corona và căn bệnh do nó gây ra đã được xác định vào năm 2019

Câu trả lời:

Xin bấm vào đường link bên dưới để xem đáp án

Con số “19” trong “COVID-19” ám chỉ điều gì?

CÂU HỎI BỆNH HỌC 339Một người đàn ông 68 tuổi, có tiền sử mắc bệnh xơ phổi tự phát di truyền trong gia đình sau khi ghép...
05/10/2022

CÂU HỎI BỆNH HỌC 339

Một người đàn ông 68 tuổi, có tiền sử mắc bệnh xơ phổi tự phát di truyền trong gia đình sau khi ghép phổi hai bên 2 năm trước đó, xuất hiện với tình trạng thay đổi hành vi tiến triển trong 4 tuần, mất trí nhớ ngắn hạn, khó tìm từ, và dáng đi không ổn định. Lần ghép phổi ban đầu của bệnh nhân bao gồm trị liệu kháng thể đơn dòng basiliximab, và bệnh nhân không có tiền sử thải ghép (transplant rejection). Liệu trình sau cấy ghép của bệnh nhân bao gồm giảm hồng cầu, bạch cầu và tiểu cầu (pancytopenia) nghiêm trọng, đòi hỏi ngừng sử dụng mycophenolate mofetil 16 tháng trước đó và giảm chế độ điều trị ức chế miễn dịch bằng thuốc tacrolimus (mức mục tiêu, 4–6 ng/mL) với prednisone (5 mg/ngày), cũng như sử dụng thường xuyên các liều lượng G-CSF (granulocyte colony-stimulating factor: giúp khôi phục lượng bạch cầu mất đi sau khi hóa trị).

Bệnh nhân đã bị nhiễm trùng huyết virút cytomegalovirus (CMV) (không bị tổn thương các cơ quan chính – end organ damage) 15 tháng trước đó với mức độ dai dẳng thấp (50–200 IU/mL) mặc dù đang sử dụng valganciclovir liều điều trị. Chế độ điều trị dự phòng nhiễm trùng của bệnh nhân bao gồm dapsone, sau khi ngừng trimethoprim-sulfamethoxazole 12 tháng trước đó do ức chế tủy xương. Xét nghiệm nhiễm trùng trước khi cấy ghép cho thấy bệnh nhân có huyết thanh dương tính (seropositive) với kháng thể immunoglobulin G (IgG) virut Epstein-Barr (EBV), với kháng thể virut herpes simplex 1 và 2, và với kháng thể virut varicella-zoster, có huyết thanh âm tính với kháng thể Toxoplasma, âm tính với vi khuẩn Mycobacterium tuberculosis khi xét nghiệm IGRAs (Interferon-Gamma Release Assays phóng thích interferon γ), và người nhận phổi có huyết thanh âm tính với kháng thể CMV (cytomegalovirus) từ người hiến tặng kháng thể dương tính với CMV. Bệnh nhân đã sống ở miền Tây Bắc Hoa Kỳ, không đi du lịch quốc tế, không tiếp xúc với những người bị bệnh hay tiếp xúc với động vật, và quan hệ tình dục một vợ một chồng với vợ.

Khám tổng quát cho thấy một người đàn ông khỏe mạnh, ngoại hình đẹp, bị rối loạn ngôn ngữ biểu cảm và 4/5 sức mạnh ở nhóm vận động bên phải. Hình ảnh cộng hưởng từ não đã chứng minh giảm cường độ chất trắng ở thùy trán trên hình chụp T1-weighted, hình chụp T2-weighted và hình chụp phục hồi đảo ngược giảm chất lỏng (FLAIR) cho thấy một vùng tăng sáng, hợp lưu, không tăng đổi quang 4,9 × 4,8 × 3,3 cm ở chất trắng ở thùy trán và các sợi liên kết ngắn (subcortical U-fiber), và vùng tăng sáng chất trắng loang lổ dưới võ trong hình chụp T2 (Hình 1).

Hình 1:

Hình chụp MRI. A, Hình chụp T1-weighted dọc cho thấy vùng giảm sáng (mũi tên) và không tăng đổi quang ở chất trắng của thùy trán. B, C, Hình chụp T2-weighted cắt ngang (B) và FLAIR (C) cho thấy vùng tăng sáng (mũi tên) ở chất trắng của thùy trán, với sự tham gia của các sợi liên kết ngắn (đầu mũi tên), cũng như sự vắng mặt của hiệu ứng khối u (mass effect: áp lực cục bộ từ một khối u hoặc tình trạng xuất huyết ở những bộ phận gần não).

Các kết quả xét nghiệm cho thấy số lượng bạch cầu là 1950/μL, số lượng bạch cầu trung tính tuyệt đối là 661/μL, số lượng tế bào lympho tuyệt đối là 1189/μL, các kết quả phản ứng chuỗi polymerase EBV (PCR) huyết tương âm tính và các kết quả CMV PCR ổn định, ở mức 60 IU/mL. Các kết quả xét nghiệm kháng thể đối với virut HIV, bệnh nhiễm ký sinh trùng toxoplasma gondii (toxoplasmosis) và nấm Coccidoides đều âm tính, cũng như các kết quả kháng nguyên Histoplasma trong nước tiểu. Chụp CT ngực, bụng và xương chậu không có gì đáng kể. Các phát hiện dịch não tủy bao gồm áp lực mở 28 cm H20 (bình thường: 10–25 cm H20), số lượng bạch cầu là 2/μL (100% tế bào lympho; bình thường: 0–5/μL), mức protein là 56 mg/dL (bình thường: 60% lượng đường huyết thanh). Dịch não tủy âm tính trong tiến tình nuôi cấy vi khuẩn và nấm, xét nghiệm virút bằng PCR (đối với CMV, EBV, virút varicella-zoster, virút herpes simplex và virút JC), và kháng nguyên cryptococcus. Sinh thiết tủy xương cho thấy tỷ lệ tế bào sinh máu

CÂU HỎI SINH HỌC 146Ở người thành niên bình thường, ruột non hấp thụ khoảng 7 lít nước mỗi ngày. Phần lớn nước được vận ...
04/25/2022

CÂU HỎI SINH HỌC 146

Ở người thành niên bình thường, ruột non hấp thụ khoảng 7 lít nước mỗi ngày. Phần lớn nước được vận chuyển một cách thụ động, được điều khiển bởi độ chệnh lệch nồng độ thẩm thấu (osmotic gradient) được tạo ra bởi các bơm natri-kali trong màng bên mao mạch của các tế bào biểu mô. Có ý kiến cho rằng nước cũng được đưa vào tế bào bằng cách vận chuyển chủ động đồng chuyển (secondary active transport, ion-coupled transport: vận chuyển cặp ion), đi đôi với quá trình vận chuyển natri và glucose vào các tế bào biểu mô nhờ các protein ở màng trong.

Trong nhiều năm, các nhà khoa học đã nắm bắt được ý nghĩa của quá trình thẩm thấu của nước. Các bơm natri (sodium pump) ở màng tiếp giáp với mao mạch vận chuyển natri ra khỏi tế bào và đi vào dịch kẽ (interstitial fluid). Điều này giúp làm giảm nồng độ natri trong tế bào và tạo ra nồng độ natri cao trong dịch kẽ. Natri được hấp thụ từ lòng ruột non, di chuyển vào nơi có nồng độ thấp, trong quá trình đồng vận chuyển với glucose hoặc axit amin. Cùng với sự di chuyển của natri từ lòng ruột non vào khe (insterstitial space), nước di chuyển bằng cách thẩm thấu, qua tế bào và qua các điểm nối chặt (tight junction) giữa các tế bào. Sau đó, cả nước và natri sẽ khuếch tán vào hệ thống mao mạch của nhung mao. Điều quan trọng cần lưu ý là nước có thể khuếch tán trực tiếp qua lớp phospholipit kép. Mặc dù sự di chuyển này của nước có liên quan đến quá trình vận chuyển natri (và các chất hòa tan khác), nhưng nó không trực tiếp đi cặp với hoạt động của một protein vận chuyển ở màng tế bào.

Quá trình thẩm thấu thụ động (passive osmosis) chỉ có thể xảy ra từ môi trường nhược trương (hypotonic) sang môi trường ưu trương (hypertonic). Như vậy không mô tả được khả năng hấp thụ nước của ruột non khi các các chất bên trọng ruột non có độ thẩm thấu cao hơn máu. Các nhà khoa học đã đề xuất rằng có các protein đồng vận chuyển Na+-glucose-nước. Các protein ở màng tế bào này di chuyển một phân tử nước vào trong tế bào với mỗi ion natri và phân tử glucose mà nó đưa qua màng. Những protein này có thể vận chuyển nước lên dốc (từ nơi có nồng độ thấp đến nơi có nồng độ cao) và giải thích cho quá trình hấp thụ nước được quan sát thấy khi các chất bên trong trong lòng ruột non tăng thẩm thấu (hyperosmolarity: nồng độ thẩm thấu tăng cao).

Tất cả các phân tử sau đây đều sử dụng protein vận chuyển qua màng, NGOẠI TRỪ:

1. lysine
2. nước
3. cholesterol
4. glucose

Covid-19: Câu Hỏi 1Con số “19” trong “COVID-19” ám chỉ điều gì?1. Có 19 biến thể của virut corona (coronavirus).2. Có 19...
04/22/2022

Covid-19: Câu Hỏi 1

Con số “19” trong “COVID-19” ám chỉ điều gì?

1. Có 19 biến thể của virut corona (coronavirus).
2. Có 19 triệu chứng của bệnh do virut corona gây ra.
3. Đây là đại dịch virut corona lần thứ 19.
4. Virut corona và căn bệnh do nó gây ra đã được xác định vào năm 2019

GIẢI ĐÁP BỆNH HỌCĐÁP ÁN CÂU HỎI 338Một người phụ nữ 62 tuổi bị bệnh bạch cầu dòng tủy cấp tính tái phát, được chẩn đoán ...
04/18/2022

GIẢI ĐÁP BỆNH HỌC

ĐÁP ÁN CÂU HỎI 338

Một người phụ nữ 62 tuổi bị bệnh bạch cầu dòng tủy cấp tính tái phát, được chẩn đoán 2 năm trước đó, đã trải qua tiến trình cấy ghép tế bào tạo máu từ người hiến tặng có quan hệ họ hàng gần với kháng nguyên phù hợp với bạch cầu sau khi tiếp nhận một chế độ điều trị chuẩn bị cho tiến trình cấy ghép, bao gồm fludarabine, busulfan và globulin kháng thymocyte; được cấy ghép vào ngày thứ 11, đã đến khám vào ngày thứ 40 sau khi cấy ghép với tình trạng sống mũi bị xẹp xuống và không gây đau (Hình 1). Bệnh nhân bị giảm bạch cầu trung tính trong 2 tháng cho đến khi được cấy ghép. Phác đồ điều trị của bệnh nhân bao gồm tacrolimus để dự phòng bệnh ghép-vật-chủ, và acyclovir, trimethoprim/sulfamethoxazole, và fluconazole để dự phòng kháng sinh.

Đầu tiên bà nhận thấy những biến dạng ở mũi 6 tuần trước khi đến khám và tình trạng này ngày càng trở xấu. Bệnh nhân cho biết không bị chảy nước mũi, nhức đầu, thay đổi thị giác, và các triệu chứng liên quan khác. Bệnh nhân sinh ra ở Trinidad và Tobago và cư trú ở Miami trong 21 năm. Bệnh nhân cho biết đã tiếp xúc với gà và vịt trong sân nhà mình ở Trinidad, và trước khi cấy ghép bà rất thích làm vườn. Bệnh nhân không có tiền sử dùng bình rửa mũi (neti pot), bị viêm xoang tái phát, hoặc phẫu thuật xoang. Gần đây bà không đi du lịch và cho biết không hút thuốc lá, uống rượu bia, hoặc sử dụng các chất kích thích (recreational drug).

Số lượng bạch cầu của bệnh nhân là 11800 tế bào/microlit với 82% bạch cầu trung tính. Xét nghiệm vi khuẩn lao Quantiferon có kết quả âm tính. Các kết quả xét nghiệm khác không có gì đáng chú ý. Kết quả khám tổng quát phù hợp với báo cáo bị dị dạng mũi rõ rệt; không bị sưng mặt; phổi rõ khi thính chẩn; không bị tổn thương da. Chụp cắt lớp vi tính (CT) xoang cho thấy không có vách ngăn mũi dưới xương trước (Hình 2); chụp CT ngực cho thấy rất nhiều nốt phổi dưới cm (subcentimeter: có đường kính nhỏ hơn hoặc bằng 8 mm), lớn nhất là nốt đỉnh bên trái 4 mm. Soi sợi quang mềm khoang mũi (flexible fiberoptic nasolaryngoscopy) phát hiện vách ngăn sụn ở mũi bị hoại tử và một chỗ thủng lớn ở vách ngăn. Không thấy xương bị ăn mòn hoặc liên quan đến xoang. Sinh thiết vách ngăn hoại tử đã được thực hiện và mô đã được gửi đi nuôi cấy và nghiên cứu mô bệnh học.

Hình 1:

Dị dạng sống mũi khi khám sức khỏe.

Hình 2:

Hình chụp CT xoang mặt cắt trước sau (coronal) (A) và mặt cắt trên dưới (axial) (B) cho thấy không có vách ngăn mũi dưới xương trước.

Chẩn đoán của bạn là gì?

Câu trả lời:

Xin bấm vào đường link bên dưới để xem đáp án

https://www.tkyh.org/giaidapyhoc/giai-dap-benh-hoc-331-340/

GIẢI ĐÁP SINH HỌCĐÁP ÁN CÂU HỎI 145Các tế bào nội mô lót đường tiêu hóa được cho là bị phân cực bởi vì chúng:1. được tíc...
02/20/2022

GIẢI ĐÁP SINH HỌC

ĐÁP ÁN CÂU HỎI 145

Các tế bào nội mô lót đường tiêu hóa được cho là bị phân cực bởi vì chúng:

1. được tích điện.
2. hấp thụ ánh sáng có hướng điện trường riêng.
3. có các vùng của màng tế bào khác nhau về các thành phần cấu tạo.
4. hấp thụ nước theo cơ chế chủ động.

Câu trả lời:

Xin bấm vào đường link bên dưới để xem đáp án

https://www.tkyh.org/giaidapyhoc/giai-dap-sinh-hoc-142-148/

GIẢI ĐÁP BỆNH TRÀO NGƯỢC DẠ DÀY THỰC QUẢNĐÁP ÁN CÂU HỎI 17Yếu tố nào sau đây góp phần gây ra bệnh trào ngược dạ dày thực...
02/07/2022

GIẢI ĐÁP BỆNH TRÀO NGƯỢC DẠ DÀY THỰC QUẢN

ĐÁP ÁN CÂU HỎI 17

Yếu tố nào sau đây góp phần gây ra bệnh trào ngược dạ dày thực quản (GERD)?

1. Mang thai
2. Thoát vị khe hoành
3. Sử dụng thuốc kháng histamine hoặc thuốc chặn kênh canxi
4. Tất cả các yếu tố trên đều góp phần gây ra bệnh trào ngược dạ dày thực quản (GERD)

Câu trả lời:

Xin bấm vào đường link bên dưới để xem đáp án

Yếu tố nào sau đây góp phần gây ra bệnh trào ngược dạ dày thực quản (GERD)?

CÂU HỎI BỆNH HỌC 338Một người phụ nữ 62 tuổi bị bệnh bạch cầu dòng tủy cấp tính tái phát, được chẩn đoán 2 năm trước đó,...
01/12/2022

CÂU HỎI BỆNH HỌC 338

Một người phụ nữ 62 tuổi bị bệnh bạch cầu dòng tủy cấp tính tái phát, được chẩn đoán 2 năm trước đó, đã trải qua tiến trình cấy ghép tế bào tạo máu từ người hiến tặng có quan họ hàng gần với kháng nguyên phù hợp với bạch cầu sau khi tiếp nhận một chế độ điều trị chuẩn bị cho tiến trình cấy ghép, bao gồm fludarabine, busulfan và globulin kháng thymocyte; được cấy ghép vào ngày thứ 11, đến khám vào ngày thứ 40 sau khi cấy ghép với tình trạng sống mũi bị xẹp xuống và không gây đau (Hình 1). Bệnh nhân bị giảm bạch cầu trung tính trong 2 tháng cho đến khi được cấy ghép. Phác đồ điều trị của bệnh nhân bao gồm tacrolimus để dự phòng bệnh ghép-vật-chủ, và acyclovir, trimethoprim/sulfamethoxazole, và fluconazole để dự phòng kháng sinh.

Đầu tiên bà nhận thấy những biến dạng ở mũi 6 tuần trước khi đến khám và tình trạng này ngày càng trở xấu. Bệnh nhân cho biết không bị chảy nước mũi, nhức đầu, thay đổi thị giác, và các triệu chứng liên quan khác. Bệnh nhân sinh ra ở Trinidad và Tobago và cư trú ở Miami trong 21 năm. Bệnh nhân cho biết đã tiếp xúc với gà và vịt trong sân nhà mình ở Trinidad, và trước khi cấy ghép bà rất thích làm vườn. Bệnh nhân không có tiền sử dùng bình rửa mũi (neti pot), viêm xoang tái phát, hoặc phẫu thuật xoang. Gần đây bà không đi du lịch và cho biết không hút thuốc lá, uống rượu bia, hoặc sử dụng các chất kích thích (recreational drug).

Số lượng bạch cầu của bệnh nhân là 11800 tế bào/microlit với 82% bạch cầu trung tính. Xét nghiệm vi khuẩn lao Quantiferon có kết quả âm tính. Các kết quả xét nghiệm khác không có gì đáng chú ý. Kết quả khám tổng quát phù hợp với báo cáo bị dị dạng mũi rõ rệt; không bị sưng mặt; phổi rõ khi thính chẩn; không bị tổn thương da. Chụp cắt lớp vi tính (CT) xoang cho thấy không có vách ngăn mũi dưới xương trước (Hình 2); chụp CT ngực cho thấy rất nhiều nốt phổi dưới cm (subcentimeter: có đường kính nhỏ hơn hoặc bằng 8 mm), lớn nhất là nốt đỉnh bên trái 4 mm. Soi sợi quang mềm khoang mũi (flexible fiberoptic nasolaryngoscopy) phát hiện vách ngăn sụn ở mũi bị hoại tử và một chỗ thủng lớn ở vách ngăn. Không thấy xương bị ăn mòn hoặc liên quan đến xoang. Sinh thiết vách ngăn hoại tử đã được thực hiện và mô đã được gửi đi nuôi cấy và nghiên cứu mô bệnh học.

Hình 1:

Dị dạng sống mũi khi khám sức khỏe.

Hình 2:

Hình chụp CT xoang mặt cắt trước sau (coronal) (A) và mặt cắt trên dưới (axial) (B) cho thấy không có vách ngăn mũi dưới xương trước.

Chẩn đoán của bạn là gì?

CÂU HỎI SINH HỌC 145Các tế bào nội mô lót đường tiêu hóa được cho là phân cực bởi vì chúng:1. được tích điện.2. hấp thụ ...
12/28/2021

CÂU HỎI SINH HỌC 145

Các tế bào nội mô lót đường tiêu hóa được cho là phân cực bởi vì chúng:

1. được tích điện.
2. hấp thụ ánh sáng có hướng điện trường riêng.
3. có các vùng của màng tế bào khác nhau về các thành phần cấu tạo.
4. hấp thụ nước theo cơ chế chủ động.

Bệnh Trào Ngược Dạ Dày Thực Quản (GERD): Câu Hỏi 17Yếu tố nào sau đây góp phần gây ra bệnh trào ngược dạ dày thực quản (...
12/27/2021

Bệnh Trào Ngược Dạ Dày Thực Quản (GERD): Câu Hỏi 17

Yếu tố nào sau đây góp phần gây ra bệnh trào ngược dạ dày thực quản (GERD)?

1. Mang thai
2. Thoát vị khe hoành
3. Sử dụng thuốc kháng histamine hoặc thuốc chặn kênh canxi
4. Tất cả các yếu tố trên góp phần gây ra bệnh trào ngược dạ dày thực quản (GERD)

GIẢI ĐÁP BỆNH HỌCĐÁP ÁN CÂU HỎI 337Một bé trai bảy tuổi có móng tay mọc bất thường, bắt đầu từ hai tuần trước. Bé trai n...
12/25/2021

GIẢI ĐÁP BỆNH HỌC

ĐÁP ÁN CÂU HỎI 337

Một bé trai bảy tuổi có móng tay mọc bất thường, bắt đầu từ hai tuần trước. Bé trai này không có các triệu chứng nào khác, bao gồm đau hoặc ngứa ở các bàn tay hoặc quanh móng tay. Bé trai không bị sốt, ớn lạnh, buồn nôn, nôn mửa, hoặc thay đổi trong sinh hoạt. Bé trai này đã bị bệnh tay chân miệng hai tháng trước đó và đã được chẩn đoán dựa vào các thương tổn dạng mụn nước ở miệng và ở các bàn tay và bàn chân. Các thương tổn này đã khỏi hoàn toàn, và mẹ của cậu bé báo cáo rằng cậu bé đã trở lại hoạt động bình thường.

Khi kiểm tra tổng quát, bệnh nhân trông có vẻ khỏe mạnh, hoạt bát. Móng tay ở cả hai bàn tay đều bị đổi màu và trông như bị b**g tróc (Hình 1 và Hình 2). Bé trai không có thương tổn da nào khác, và phần còn lại của cuộc kiểm tra tổng quát không có gì đáng kể.

Dựa vào tiền sử bệnh và các kết quả kiểm tra tổng quát của bệnh nhân, đâu là chẩn đoán có nhiều khả năng nhất?

1. Lạm dụng trẻ em.
2. Chứng hở móng (ly móng)
3. Chứng lột móng (mất móng, b**g móng)
4. Nấm móng.
5. Bệnh chải chuốt (Hành vi cắn móng, nhổ tóc, bóc da..).

Câu trả lời:

Xin bấm vào đường link bên dưới để xem đáp án

https://www.tkyh.org/giaidapyhoc/giai-dap-benh-hoc-331-340/

Address

San Francisco, CA
94112

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Tkyh.org posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share