19/09/2022
Phần 2: SẢY THAI LIÊN TIẾP NHIỀU LẦN, HƯỚNG ĐIỀU TRỊ THEO NGUYÊN NHÂN?
Can thiệp hỗ trợ điều trị cho những cặp vợ chồng bị sảy thai liên tiếp được dựa trên những nguyên nhân cơ bản của STLT với mục tiêu cao nhất là thai kỳ thành công, sinh ra được em bé khỏe mạnh.
Các bạn có thể đọc lại Phần 1: Sảy thai liên tiếp và Nguyên nhân
1. BẤT THƯỜNG Ở TỬ CUNG => PHẪU THUẬT CÁC BẤT THƯỜNG Ở TỬ CUNG
Can thiệp cho các bất thường tử cung ở phụ nữ bị STLT không chỉ đơn giản là cố gắng sửa chữa hết tất cả những bất thường được chẩn đoán không mấy khó khăn bằng các phương tiện chẩn đoán hình ảnh hiện đại, mà bắt buộc phải xem xét ảnh hưởng của vấn đề một cách cẩn thận dựa vào tiền sử và thăm khám lâm sàng
Phụ nữ STLT có vách ngăn được các chuyên gia khuyên nên tiến hành nội soi buồng tử cung cắt vách ngăn.
Các bất thường bẩm sinh khác của tử cung hầu hết đều có kết cục sản khoa tốt, thêm vào đó, những phẫu thuật được sử dụng để sửa chữa những bất thường này thường xâm lấn nhiều và có nhiều nguy cơ gây biến chứng, nên phẫu thuật không được khuyến cáo.
2. HỘI CHỨNG KHÁNG PHOTPHOLIPID => LIỆU PHÁP KHÁNG ĐÔNG
Do hội chứng kháng phospholipid có thể gây sẩy thai thông qua tình trạng tăng đông máu, do đó sử dụng aspirin liều thấp và heparin từ lâu nay đã được sử dụng khá rộng rãi ở phụ nữ có tiền sử STLT bị hội chứng kháng phospholipid.
3. MIỄN DỊCH DO KHÁNG GEN =>TRỊ LIỆU MIỄN DỊCH
Hiện nay, trị liệu miễn dịch chủ yếu tập trung vào nhóm đối tượng STLT chưa rõ nguyên nhân. Các liệu pháp miễn dịch như tạo miễn dịch từ tế bào người bố, tạo miễn dịch từ tế bào người cho, hòa màng nguyên bào nuôi và tiêm immunoglobulin đường tĩnh mạch (IVIG) từng được xem xét có hiệu quả ở nhóm đối tượng này. Tuy nhiên, những chứng cứ hiện nay mà tiêu biểu là một tổng quan hệ thống trên thư viện Cochrane phân tích 20 thử nghiệm có chất lượng cao, với nhiều dạng trị liệu khác nhau đã cho thấy không có sự khác biệt giữa nhóm có điều trị và nhóm chứng trong việc cải thiện tỷ lệ trẻ sinh sống.
4. NỔI TIẾT, CHUYỂN HÓA => ĐIỀU CHỈNH CÁC RỐI LOẠN NỘI TIẾT CHUYỂN HÓA
Theo khuyến cáo, hiện chưa có đủ bằng chứng để đánh giá hiệu quả của việc bổ sung progesterone trong thai kỳ để ngăn ngừa sẩy thai ở phụ nữ bị STLT. Tương tự, cũng chưa có đủ bằng chứng để đánh giá hiệu quả của việc bổ sung hCG trong thai kỳ để ngăn ngừa sẩy thai ở phụ nữ bị STLT.
Hiện những thử nghiệm ngẫu nhiên lớn về hiệu quả của progesterone về kết cục thai kỳ ở phụ nữ STLT không rõ nguyên nhân là còn thiếu, nhưng progesterone lại thường được chỉ định cho nhóm đối tượng này. Với những hạn chế của các dữ liệu hiện có, cần phải có thêm nhiều thử nghiệm ngẫu nhiên quy mô lớn để khẳng định hiệu quả thực sự của progesterone ở phụ nữ có tiền sử STLT không rõ nguyên nhân.
5. NGUYÊN NHÂN DI TRUYỀN => SÀNG LỌC BẤT THƯỜNG NST
Khi phát hiện bất thường bộ NST của bố mẹ, bạn nên đến trung tâm tư vấn sàng lọc di truyền. Các bác sĩ sẽ cung cấp những thông tin về khả năng mang thai có bộ NST bất thường hay không bất thường. Từ đó, tùy thuộc vào mức độ nguy cơ của bất thường mà có thể tiếp tục để mang thai tự nhiên, sau đó kết hợp với các bước chẩn đoán trước sinh hay có thể xin trứng, xin tinh trùng hay nhận con nuôi.
Khi các cặp vợ chồng có bất thường NST nhưng vẫn tiếp tục mang thai, đã có các phương pháp chẩn đoán trước sinh (chọc ối, sinh thiết g*i nhau) để xác định bất thường NST thai nhi. Tuy nhiên, các phương pháp này đều xâm lấn và có nguy cơ sẩy thai nên không được khuyến cáo thực hiện thường quy cho các đối tượng trên
Thực hành lâm sàng hiện nay cũng tiến hành theo từng bước như trong các thai kỳ bình thường: sinh hóa máu mẹ, các soft marker trong tam cá nguyệt I hoặc II cùng với các nguy cơ nền tảng của người mẹ để tính ra nguy cơ cao hay thấp của các bất thương NST thai nhi. Quyết định sinh thiết g*i nhau hay chọc ối sẽ dựa trên nguy cơ sau khi được tính toán.
Chẩn đoán di truyền phôi tiền làm tổ (PGD) khi thực hiện thụ tinh trong ống nghiệm (TTTON) giúp phát hiện và loại bỏ những phôi mang bất thường NST, nhờ đó giảm tỷ lệ sẩy thai ở những cặp vợ chồng bị STLT.
6. NHIỄM TRÙNG =>KHÁNG SINH ĐIỀU TRỊ CÁC TÁC NHÂN NHIỄM TRÙNG
Kết quả một số nghiên cứu cho thấy tầm soát và điều trị nhiễm khuẩn âm đạo trong giai đoạn sớm của thai kỳ ở phụ nữ có tiền sử sinh non tự phát và sẩy thai ở tam cá nguyệt II có thể làm giảm nguy cơ tái phát của sẩy thai và sinh non. Tuy nhiên, hiệu quả của việc sử dụng kháng sinh điều trị nhiễm trùng trước khi mang thai đối với phụ nữ STLT thì vẫn chưa được khẳng định trong các nghiên cứu lâm sàng.
Các kháng sinh thường được lựa chọn như metronidazole hay nhóm macrolide (như erythromycin)… tương đối vô hại, tuy nhiên kháng sinh nên sử dụng thận trọng vì nguy cơ kháng thuốc.
7. PHÂN MẢNH ADN TINH TRÙNG =>VAI TRÒ CỦA ANTINOXYDANT (chất chống oxy hóa)
Mặc dù có bằng chứng cho thấy các stress oxy hóa đóng vai trò trong bệnh sinh của sẩy thai và STLT, tuy nhiên rất khó chứng minh hiệu quả của việc sử dụng các chất kháng oxy hóa (antioxidant) lên việc giảm ROS trong tinh dịch, giảm phân mảnh DNA của tinh trùng và cải thiện kết cục thai kỳ ở những cặp vợ chồng có tiền sử STLT vì thiếu những kết quả từ các nghiên cứu ngẫu nhiên.
Các antioxidant thường được sử dụng bao gồm vitamin A, acid folic, vitamin C, vitamin E, kẽm, sắt, vitamin tổng hợp… Tuy nhiên, do những hạn chế trong các thiết kế nghiên cứu, nên hiện nay vai trò của antioxidant vẫn chưa được đồng thuận rộng rãi. Để có được những khuyến cáo đồng thuận trong tương lai thì hiện tại cần tiến hành thêm nhiều nghiên cứu ngẫu nhiên có thiết kế tốt
8. ĐIỀU CHỈNH MÔI TRƯỜNG, LỐI SỐNG
Thay đổi điều chỉnh môi trường sống, lối sống có thể đóng một vai trò nhất định trong quản lý các trường hợp STLT có nguyên nhân cũng như chưa rõ nguyên nhân. Nghiên cứu dịch tễ cho thấy những thay đổi này có thể giúp tăng khả năng sinh sản, mặc dù thiếu thông tin được kiểm chứng trong các nghiên cứu ngẫu nhiên.
Những thay đổi thường đơn giản bao gồm không hút thuốc lá, không sử dụng rượu bia, giảm sử dụng cà phê, giảm cân, thay đổi môi trường làm việc hoặc có biện pháp bảo vệ sự phơi nhiễm với các yếu tố độc hại của môi trường. Thay đổi điều chỉnh môi trường sống, lối sống cũng đóng một vai trò nhất định trong việc giảm tổn thương DNA và cải thiện chất lượng tinh trùng
9. HỖ TRỢ TÂM LÝ, TINH THẦN
Tiên lượng khá tốt đẹp về khả năng có con sinh sống của các cặp vợ chồng bị STLT chưa rõ nguyên nhân được cho là nhờ kết quả của việc hỗ trợ tâm lý, tinh thần. Hỗ trợ tâm lý kết hợp cùng khám thai và siêu âm hàng tuần, nghỉ ngơi nhiều, tránh làm việc nặng nhọc và hoạt động tình dục cũng giúp tránh được tình trạng STLT.
Để tốt nhất, khi gặp tình trạng STLT bạn cần tham khám kĩ và tuân thủ theo các phương pháp của chuyên gia. Chúc cho mẹ con bạn sẽ luôn bình an đến ngày gặp nhau ❤