25/05/2021
PHÒNG VÀ CHỮA CORONA – CHI PHÍ GẦN BẰNG 0
(Bản full 17h-25/05/2021)
I. CHÚ Ý QUAN TRỌNG.
1. Phương pháp này chỉ dùng để phòng và chữa cho các F0 chưa có triệu trứng. Tức là đã xét nghiệm dương tính nhưng chưa biểu hiện bệnh trứng.
2. Phương pháp này chữa được viêm phổi thông thường ( tức viêm phổi mà không truyền), viêm amindan, viêm họng và cảm cúm, … Vì vậy, cũng dùng để phòng và chữa trị cho các F1 F2 và cả người vô bệnh.
Hải Hồng Dũng
094 181 5580
II. Cơ sở lý luận.
Vì những kiến thức mà tôi sử dụng để biện trứng luận trị. Nó vừa quá cũ, cũ đến mức, dù được các cụ ghi chép trong chương số 19 – Ngọc cơ chân tạng luận của cuốn “ Hoàng đế nội kinh tố vấn” nhưng vì không có người tri tâm lĩnh hội được nó cho nên thất truyền.
Nhưng lại cũng quá mới, mới đến mức y học hiện nay còn chưa biết khí là gì cho nên chưa hiểu bản chất của hư thực bổ tả trong đông y.
Vậy nên, trước tiên, Tôi cung cấp những kiến thức nền tảng sau:
1. Bản chất của bổ tả trong đông y.
Phàm là sinh vật sống trong lòng trời đất, thì thì phải thuận theo lẽ tự nhiên, tuân theo quy luật âm dương ngũ hành. Các virut, vi khuẩn cũng vậy, chúng cũng có thể xác và sinh khí riêng của nó. Bản chất của châm cứu bổ tả, ngoài việc loại bỏ tà khí, tưới thắm quan tiết, nó còn dùng để rút đi hoặc thổi mất đi cái sinh khí tự nhiên của các mầm bệnh như vi rút, vi khuẩn. Vi rút Sar ncov 2 cũng vậy.
Ví như đối với con người, nếu dùng kim nhỏ mà châm huyệt đại cấm 25 lần thì dù kim nhỏ, hình hài không bị tổn thương nhưng khí của 5 tàng bị kiệt. Sẽ chết rất yên tĩnh. Với Sar ncov 2, ta dùng phương pháp tả, tả đi sinh khí tự nhiên của nó thì nó sẽ chết, chỉ còn lại hình hài, các thực bào của hệ miễn dịch sẽ xử lý nốt. Đó là nguyên tắc căn bản của phương pháp điều trị này.
2. Bản chất của khí trong đông y.
Thức ăn đi vào dạ dầy, dịch vị làm gãy các liên kết hóa học trong thức ăn. Các phân tử mới được tạo thành sau quá trình bẻ gãy đó mà được hấp thụ vào máu thì gọi là tinh chất, các hạt lượng tử ánh sáng thoát ra bởi các phản ứng hóa học sinh nhiệt đó, nó được tỳ ( tỳ là lá lách) hấp thu và dẫn hành lên phế (phế là phổi) thì được gọi là tinh khí. khí này được gọi là tinh khí, Trong đông y còn chia ra làm Tinh – khí – thần, danh có khác nhưng bản chất vẫn là từ tinh khí của thức ăn.
Tinh chất quy tụ tạo nên hình hài cơ thể. Tinh khí là năng lượng cho tinh chất quy tụ. Phàm là sinh vật trong trời đất, có cả hình hài và sinh khí thì sống, mất đi sinh khí hoặc mất đi hình hài đều chết. Đó chính là bản chất của khái niệm khí trong đông y.
3. Nguyên tắc bộ vị trong sinh trưởng và phát triển của sinh vật.
- Nguyên tắc âm dương trong ngoài: Ngoài là dương, trong là âm, da lông ở ngoài là dương, xương ở trong nên là âm, gân gia cố cho xương nên là dương trong âm, não tủy ở trong xương nên là âm trong âm.
- Nguyên tắc tam bộ thượng – trung – hạ: Thượng là phần đầu, trung là phần giữa của cơ thể, hạ là phần dưới của cơ thể.
- Nguyên tắc âm dương trước sau của cơ thể: Lưng là dương, bụng là âm.
Nếu luật âm dương – trong ngoài bị phạm, ví như tim để ở ngoài da, da lông bọc trong gan thì sẽ chết – không sống được. Nếu luật tam bộ thượng trung hạ bị phạm, ví như tim mọc trên đầu, mắt mọc trên ngực, ..sẽ là bệnh.
Trung thể là bào quan thực hiện vai trò tinh chỉnh chu kỳ tế bào, điều tiết phân cực, xắp xếp bào quan sao cho cấu trúc của tế bào phải tương ứng với bộ vị của nó. Vậy cho nên, mỗi trung thể có 2 trung tử trong và ngoài cho ứng với luật bộ vị âm dương, mỗi trung thể có 9 bộ, mỗi bộ gồm 3 vi ống, 3 vi ống là để ứng với luật tam bộ Thượng – Trung – Hạ.
4. Quan khiếu.
Trung tử lại có 9 bộ 3 vi ống là vì 9 bộ này là 9 quan khiếu của tế bào – tương tự như 9 khiếu của người, ngoài thì thông với thiên khí, trong thì liên thuộc với ngũ tạng.
Lại vì 9 quan khiếu của tế bào liên thuộc với các bào quan của tế bào cho nên, ứng với kích thích ngoại bào tác động lên 9 quan khiếu. Vị trí, cấu trúc của các bào quan của tế bào sẽ được biệt hóa tương ứng với bộ vị của nó.
Ngược lại, 9 quan khiếu lại là nơi khai khiếu của các bào quan cho nên ứng với các tế bào ở các bộ vị khác nhau, 9 quan khiếu của tế bào cũng sẽ chỉ tiếp nhận các kích thích tương ứng với bộ vị của nó.
Ví dụ như: Trong quá trình kích thích vùng não thị giác, thông tin từ tế bào cảm quang của thị giác không thể truyền trực tiếp đến não bộ mà phải qua các tầng tế bào trung gian là tầng tế bào ngang, tầng tế bào hạch rồi mới đến dây thần kinh dẫn vào não. Dó là vì, tế bào cảm quang, thông qua nhãn hệ mà tiếp xúc với thiên khí, bộ vị của nó nằm ở phần dương. Não, tức là não tủy, nằm trong xương nên bộ vị của nó nằm ở phần âm trong âm. Thông tin từ phần dương mà truyền thẳng đến phần âm trong âm thì vì âm trong âm không có quan khiếu ứng với phần dương cho nên không thế tiếp nhận.
5. Quan khiếu đóng mở.
Mỗi trung thể lại có hai trung tử. Giống như 2 nam châm trong chiếc loa điện. trong loa điện, có một nam châm điện và một nam châm vĩnh cửu gắn với màng loa. Ứng với dòng điện đi vào nam châm điện, nam châm vĩnh cửu sẽ bị hút đẩy tạo ra sóng âm tương ứng – không có sai khác. Nếu như ta đặt một thiết bị khử từ ở giữa 2 nam châm đó, thì dù có dòng điện đi vào nam châm điện, nam châm vĩnh cửu cũng sẽ không dao động. Vậy nên, với hai trung tử của trung thể, trung tử mẹ là quan khiếu đáp ứng với bên ngoài tế bào, trung tử con liên thuộc các bào quan. Ở trạng thái thả lỏng, thấu lý khai mở, đáp ứng của trung tử con và trung tử mẹ đối với nhau sẽ như đùi trống gõ vào mặt trống thì trống sẽ kêu không có khuất tất. Nhưng khi thấu lý đóng lại, đóng liên kết giữa trung tử mẹ và trung tử con, thì dù cho tà khí bên ngoài có mạnh mẽ, nó cũng không thể vào được bên trong mà gây bệnh.
III. Biện chứng luận trị.
1. Phân tích biện chứng:
- Phân tích thứ nhất: Virut Corona, nó có thể tiềm phục trong cơ thể đến tận 21 ngày ( hoặc lâu hơn) rồi mới phát bệnh có nghĩa rằng: trong thời gian tiềm phục, nó chỉ tá túc mà không gây bệnh. (1)
- Phân tích thứ hai: Khi nó có triệu trứng, có kèm các triệu trứng như, mất khứu giác, ho, sốt, đau họng, xuất huyết…đấy là các biểu hiện của phế khí suy yếu. Tức là tạng phế (phổi) đã bị nhiễm bệnh. (2)
- Phân tích thứ 3: Ngoài các triệu trứng của tạng phế, còn có : người mệt mỏi, mất vị giác – đó là triệu trứng tạng tỳ suy yếu. Các triệu trứng này đều là triệu trứng bệnh truyền từ tạng sang tạng. (3)
Những điều (1), (2) và (3) có nghĩa là virut corona chỉ tấn công vào các tế bào có bộ vị thuộc tạng chứ không tấn công các cơ quan bên ngoài của tạng phế. Các tạng đều ở kinh âm, bệnh ở kinh âm mà tạng khí sung đầy thì bệnh khí sẽ không vào được tạng. Cho nên, trong thời gian nó tiềm phục ở bên ngoài, vi rút sẽ nhân lên, rồi nhân lúc phế khí suy yếu hoặc quan khiếu của phế khai mở thì nó nhân đó xâm vào mà sinh bệnh.
5 tạng đều thông nhau, truyền đều có thứ tự. Cho nên, khí gây bệnh ở tạng phế (phế tức là phổi, phế ứng với da lông, bộ vị đều là dương) mà lại phải chờ cho phế suy yếu mới có thể vào tức là khí ấy ký túc ở tạng tỳ ( lá lách, tỳ ứng với cơ nhục, bộ vị đều là dương trong âm). Khí gây bệnh ở phần dương, mà lại ký túc ở phần dương trong âm thì ắt là khí ấy bắt nguồn từ phần âm trong âm – tức tạng thận ( thận ứng với cốt tủy, bộ vị đều là âm trong âm).
Như vậy, thứ tự bệnh truyền của bệnh viêm đường hô hấp cấp do vi rút SAR NCOV 2 gây ra là: Bệnh ở tạng phế, thụ bệnh khí ở tạng thận, truyền sang gan, khí ấy ký túc ở tạng tỳ, truyền sang tâm thời chết (tâm tức là tim, tâm ứng với mạch – bộ vị đều là âm trong dương). ( đoạn này được các cụ dậy trong chương 19- ngọc cơ chân tạng luận của “ Hoàng đế nội kinh tố vấn”.)
2. Luận trị.
Bậc cao minh, chữa từ lúc chưa mắc bệnh. Tức là bệnh ở tạng phế thì phải chữa từ lúc bệnh còn đang ký túc ở tạng tỳ - tức là bệnh còn ở cơ thịt mà còn chưa gây bệnh chứng ở tạng phế (phổi). Để bệnh vào tạng phế rồi – thời sẽ khó chữa.
Chữa bệnh ở tạng phế, tức muốn làm cho phế khí sung đầy thì phải dùng phương pháp bổ phế. Chữa bệnh ở tạng tỳ, muốn xua đuổi tà khí thì phải dùng thuốc hoặc tắm cho phát hãn (hãn, tức là mồ hôi, hãn là dương khí, cũng là tinh khí).
3. Phương pháp:
Mấu chốt của vấn đề là: Bệnh ký túc ở phần dương thì phải phạt dương cho nó tán đi. Phạt dương tức là nhân lúc dương khí đang phát triển mà làm cho dương khí thăng lên. Dương khí trưởng thì thắng được tà.
Phế ứng với bì mao, bộ vị đều ở phần dương. Cho nên dùng phép bổ với da lông tức là phép bổ ứng với tạng phế.
Tiết khí trong một ngày tương ứng với bốn mùa xuân hạ thu đông. Buổi sáng dương khí mới sinh - ứng với khí mùa xuân – khí quan bắt đầu mở, buổi trưa dương khí trưởng - ứng với khí mùa hạ - khí quan sung thịnh, buổi chiều dương khí bắt đầu suy - ứng với khí mùa thu – khí quan thu liễm, ban đêm dương khí thâu tàng vào trong tạng phủ - ứng với khí mùa đông. Vậy nên, phạt dương thì phải nhân lúc buổi sáng, mặt trời mọc, dương khí đang phát triển mà làm cho nó mạnh thêm.
Như vậy, phương pháp chữa bệnh chữa bệnh viêm đường hô hấp cấp do virut SARS-CoV-2 gây ra là phải tắm cho ra mồ hôi vào lúc mặt trời mọc. Khi tắm, nếu có thể thì cho thêm các loại thảo dược giúp cứu dương khí như lá tía tô hoặc các loại thảo dược có tác dụng giải cảm tương tự - tùy địa phương.
Chú thích:
- Ở ta có phương pháp xông, tức là nấu nước lá, trùm chăn kín người cho ra mồ hôi, phần nhiều giống phép tắm. Nhưng phép tắm nó triệt để hơn, chỉ có điều, trong lúc tắm có nước cho nên người không tinh ý thì không thấy được mồ hôi ra.
- Khi vi rút SAR-NCOV-2 còn chưa gây bệnh chứng thì nó còn tá túc ở cơ thịt. Cơ thịt là dương trong âm, cho nên khi chính khí từ âm trong âm đi ra phần dương, nó đi qua phần dương trong âm, chính khí đi mạnh mẽ thì nó sẽ thổi luôn cả cái sinh khí tự nhiên của SAR-NCOV-2. Virút SAR-NCOV-2 mất đi sinh khí tự nhiên, nó sẽ chết.
4. Chú ý:
- Chú ý thứ nhất: Tắm cho ra mồ hôi mà lại là phép bổ thì không phải là tắm nước ấm mà phải là tắm nước nóng, nóng đến mức gây rát nhưng không gây bỏng. Phép bổ là cứu cho chính khí đến, phép tả là đoạt tà khí đi. Trọng tâm của hư thực bổ tả cốt ở thần khí. Cho nên khi tắm, phải dựa vào quan sát thần khí để biết nước đủ nóng hay chưa, tắm đã đủ lâu hay chưa? Nếu nước đủ nóng, da lông sẽ có cảm giác hơi rát nhưng không bỏng. Phép bổ là phép làm cho người bệnh có cảm giác như nhận được cái gì đó – khoan khoái dễ chịu. Cho nên, khi tắm mà thấy trong người khoan khoái dễ chịu thì là thần khí đã đến, không cần tắm lâu hơn nữa. Con người, già trẻ gái trai, da thịt dầy mỏng khác nhau cho nên nhiệt độ của nước tắm, thời gian tắm, cũng vì thế mà không nhất thiết giống nhau.
Nước đủ nóng thì dội lên các vùng da như cánh tay, lưng, đầu sẽ có phản ứng mạnh. Khi tắm, dùng bàn tay, cánh tay để thử nóng trước rồi mới thử ở lưng rồi lên đầu rồi tắm đều toàn thân. Làm như vậy sẽ biết được nước đã đủ nóng hay chưa mà không bị bỏng.
Chú ý thứ hai: Phép tắm áp dụng ở đây là phép bổ tả trong châm cứu trị liệu, phép châm bổ mà lại dùng ở phần nông trên toàn cơ thể cho nên thành phép tắm. Là phép châm cứu trị liệu thì phải tuân theo những điều kiêng kỵ trong châm cứu: Trước khi tắm không được đói, tắm xong cũng không được để bị đói, trước khi tắm không được ăn no, sau khi tắm cũng không được ăn quá no, trước khi tắm không được say rượu, sau khi tắm cũng không được say rượu, trước khi tắm không được nhập phòng, sau khi tắm xong cũng không được hành sự, trước khi tắm không được vận động cho hao kiệt, sau khi tắm không lâu cũng không được quá dùng sức gân xương…Những điều kiêng kỵ trên đây đều là những điều làm cho chính khí với tà khí trộn lẫn vào nhau. Dùng phép bổ tả mà không chú ý những điều kiêng kỵ thì chân khí không những khó đạt mà còn dễ làm cho khí huyết nghịch loạn, khí huyết nghịch loạn thì dễ mang họa về sau.
Chú ý thứ ba: Trong lúc tắm không được để bị gió lạnh, sau khi tắm, tấu lý đang khai mở, cũng không được để bị lạnh.
Chú ý thứ tư: khi dùng phép châm cứu bổ tả thì nam giới không được vào phòng trong, nữ giới không được ra phòng ngoài. Làm như vậy để tránh thị dục làm hao tán tinh khí. Con người có 3 thứ Tinh – Khí – Thần, danh có khác nhưng bản chất là một. Thận tàng tinh khí, tinh khí hao kiệt thì thì sẽ khó được khí.
Chú ý thứ tư: Nước lạnh thuộc thủy, thuộc âm, thận cũng thuộc thủy, thuộc âm. Thận với nước lạnh cùng loài cho nên, nếu ban đêm, chân khí đang thâu tàng về thận mà tắm nước lạnh xong đi nằm ngay thì nước lạnh đi vào thận. Nước lạnh vào thận rồi thì thận đầy, thận đầy rồi thì sẽ chính khí sẽ không thể thâu tàng, khí không thâu tàng thì khí tán. Tinh khí tán, thì châm âm suy kiệt, châm âm suy kiệt hết thì con người sẽ chết. Chết vì chân âm suy kiệt thì khi chết sẽ rất yên tĩnh.
Vậy cho nên, bệnh dù ở phế nhưng gốc nó ở thận, muốn phế khỏe thì tinh khí cũng phải tràn đầy. Tinh khí tràn đầy thì phải điều dưỡng theo đúng quy luật sinh – trưởng – thâu – tàng của tự nhiên. Làm trái lại, buổi chiều, buổi tối mà tắm nước lạnh, âm khí phải ứng ra để cản lại, âm khí không thâu tàng thu liễm được thì sẽ không có chính khí để truyền sang phế, phế khí suy yêu thì tà khí sẽ nhân đó mà nhập vào sinh bệnh. Thế nên, buổi chiều, buổi tối đừng tắm nước lạnh. Mặt trời lặn rồi thì không được tắm nước lạnh nữa, nếu cần thì chỉ nên lau người bằng khăn ấm.
Chú ý thứ 5: Phép tắm cho phát hãn này dùng để bổ phế, xua đuổi tà khí ở bì mao cơ nhục. Vậy nên, khi chưa bị bệnh, hoặc khi xét nghiệm đã là F0 nhưng chưa có triệu chứng thì phép này hoàn toàn có thể phòng và trị bệnh. Khi bệnh đã vào đến tạng phế, biểu hiện là có triệu trứng bệnh rồi thì phép này không hoàn toàn chữa được bệnh, phải dùng thêm thuốc.
Chú ý thứ 6: Quá trình điều trị phải kiêng ăn lạnh, kiêng uống nước lạnh, kiêng mặc áo lạnh, không được ở nơi lạnh.
5. Các tác dụng khác.
- Cảm cúm, viêm họng, viêm amin dan đều có thể dùng phép tắm cho phát hãn vào buổi sáng này để chữa khỏi hoàn toàn, qua đó, cũng ngăn ngừa viêm phổi.Nếu toàn dân đều biết mà dùng phép chữa này thì sẽ giảm đến 90% chi phí thuốc men liên quan đến cảm cúm cho toàn xã hội.
Trị cảm cúm, người bình thường 3 ngày khỏi. Người có thể trạng suy yếu, kèm cả viêm họng, amidan 5 đến 10 ngày sẽ khỏi. Tắm phát hãn vào buổi sáng mà không hết ho thì uống nước ấm điều dưỡng cổ họng, ngậm vỏ chanh để trị ho. Vỏ chanh có vị đắng, vị đắng đi vào tâm, tâm là hỏa, hỏa khắc kim, kim là phế, chữa ở phế mà không khỏi thì chữa ở tâm để khắc bệnh cho nên dùng vị đắng.
- Khí đi dẫn đường cho huyết, huyết đi mang theo khí, không có khí thì huyết đi không đúng đường, không có huyết thì thì khí lưu tán không thể thu liễm. Vậy cho nên, phép tắm nước nóng vào buổi sáng để dẫn chính khí ra phần dương, cũng đồng thời là phép dẫn cho huyết đi nuôi dưỡng da lông. Da lông được huyết nuôi dưỡng thì sẽ mịn khít mà mọc dài da bóng đẹp. Vậy cho nên, phép này cũng là phép dưỡng da, đẹp lông tóc.
- Trời là dương, đất là âm, âm dương sinh trưởng mới sinh muôn vật. Cho nên, phép tắm cho phát hãn vào buổi sáng cũng chính là phép bổ để phòng bách bệnh.