Chăm Sóc Sức Khỏe - Dinh Dưỡng Khoa Học - Diện Chẩn Thực Hành

Chăm Sóc Sức Khỏe - Dinh Dưỡng Khoa Học - Diện Chẩn Thực Hành Chia sẻ kiến thức, kỹ năng chăm sóc sức khỏe chủ động, dinh dưỡng khoa học, diện chẩn thực thực hành Tại sao gọi là Diện Chẩn Điều Khiển Liệu pháp?

Diện Chẩn là tên gọi rút gọn của phương pháp Diện Chẩn – Điều khiển Liệu Pháp (Face diagnosis – Cybernetic Therapy – FACY). Đây là một phương pháp phòng và trị bệnh mới của Việt Nam, ra đời vào đầu năm 1980 do nhà nghiên cứu y học dân tộc, GS TSKH Bùi Quốc Châu sáng tạo. Khác với Châm cứu, cần bắt mạch để biết bệnh và châm vào hệ kinh lạc để chữa bệnh. Diện Chẩn là phương pháp chẩn đoán và chữa b

ệnh qua da trên vùng mặt và toàn thân bằng cách tác động lên những điểm rất nhạy cảm (gọi là Sinh Huyệt) và vùng tương ứng với các bộ phận bị bệnh trên toàn thân được gọi là Đồ Hình Phản Chiếu. Diện chẩn là phương pháp chẩn đoán các dấu hiệu trên khuôn mặt. Có thể định nghĩa, Diện Chẩn là phương pháp chẩn đoán các dấu hiệu về tình trạng sức khỏe của con người thể hiện trên khuôn mặt, từ đó có thể phát hiện và tác động để gia tăng sức khỏe, phòng và điều trị các chứng bệnh. Qua nghiên cứu cho thấy, khuôn mặt được xem như là điểm thông tin và kiểm soát toàn bộ các hoạt động của cơ thể, dựa trên sự phản chiếu và đồng ứng với các bộ phận ngoại vi và nội tạng của cơ thể. Mỗi điểm phản xạ trên khuôn mặt sẽ phản ảnh một cơ quan tương ứng. Từ cơ sở này, ta có thể tác động lên các huyệt đạo trên khuôn mặt để tạo sự biến chuyển trên các cơ quan tương ứng đó. Hiện nay, Diện Chẩn không chỉ là chẩn đoán trên khuôn mặt, mà dựa trên thuyết Đồng ứng, đã mở rộng việc chẩn đoán và trị liệu ra toàn thân, đặc biệt là trên bàn tay, cánh tay, từ đó có thể tác động trên bàn tay, bàn chân, cánh tay, cổ tay để hỗ trợ việc trị liệu các vấn đề về sức khỏe của toàn thân. Vì Diện Chẩn là một dạng phản xạ học đa hướng và đa hệ, nó khác biệt với phản xạ học cổ điển có tính nhất hướng. Sở dĩ gọi là Điều Khiển Liệu Pháp là vì ta có thể tác động vào các huyệt đạo ở vùng mặt và một số vùng trên cơ thể bằng các kỹ thuật như ấn, day, lăn, xoa, cào... thông qua các công cụ của Diện Chẩn và sự tác động đó có khả năng điều khiển để tạo ra những hiệu ứng trên các bộ phận nội tạng và ngoại vi của cơ thể. Việc điều khiển gây ra những tác động cũng giống như ta điều khiển cái remote của các loại máy móc ( TV, Máy Lạnh, Quạt máy...) để khởi động hay tắt các hoạt động. Khi ta tác động lên các huyệt đạo cũng chính là việc khởi động cho quá trình điều chỉnh trên các bộ phận của cơ thể , tạo ra những biến chuyển cho toàn bộ hệ thống sức khỏe của người bệnh. Lịch sử phương pháp Diện Chẩn
Trong lịch sử Y học Thế giới đã có một số phương pháp tương tự với DIỆN CHẨN – ĐIỀU KHIỂN LIỆU PHÁP(FACY) nếu xét qua về mặt hình thức – vì nó dựa trên nguyên tắc phóng chiếu (Projection) – trong khi FACY dựa trên nguyên tắc PHẢN CHIẾU (REFLECTION) là một hình thức tương tự PHÓNG CHIẾU NHƯNG ĐA CHIỀU (MULTI - DIRECTION) TRONG KHI PHẢN CHIẾU CHỈ CÓ MỘT CHIỀU TRÊN MỘT MẶT PHẲNG DUY NHẤT. PHẢN CHIẾU (REFLECTION) CÓ THỂ GỌI LÀ PHẢN XẠ NHIỀU CHIỀU VÀ ĐA HỆ (MULTISYSTEM). DO ĐÓ NÓ CŨNG KHÁC PHẢN XẠ CỔ ĐIỂN LÀ PHẢN XẠ ĐƠN HỆ. Các phương pháp đó là Vọng chẩn của Đông Y cổ truyền (Médecine Traditionnelle Orientale). Nhãn chẩn (L’Iriscopie) của Ignas Peczely (1980) phương pháp kích thích vùng bên trong mũi để trị bệnh (Réflexothérapie endonasale) của Bonnier (1930), cũng như của Asuero (1931), Diện châm (Faciopuncture), Tỵ châm (Nasopuncture) của Trung Y (Médecine Chinoise), Nhĩ châm (Ariculothérapie) của P.Nogier, thủ châm (Manopuncture) và túc châm (Podopuncture). Mỗi phương pháp trên đều có hình chiếu hoặc những điểm tương ứng với các bộ phận của cơ thể, dùng để chuẩn đoán hay trị bệnh.

CÁCH CẦM MÁU BẰNG HUYỆT DIỆN CHẨN( Cần lưu về và thực hành trước để chủ động trong tình huống khẩn cấp)Vì đây là tình hu...
01/10/2020

CÁCH CẦM MÁU BẰNG HUYỆT DIỆN CHẨN
( Cần lưu về và thực hành trước để chủ động trong tình huống khẩn cấp)

Vì đây là tình huống cấp bách cần xử lý ngay, nên cần thao tác đơn giản, nhanh gọn, dễ nhớ.

Huyệt cần bấm: 61, 16, 0, 50, 37
Trong đó 3 huyệt quan trọng cần phải bấm là 61, 16, 0!

Nếu mình bị chảy máu thì làm thế nào?

Bị bên nào thì dùng tay bên kia bấm lên vị trí các huyệt đã nêu thuộc bên đó. ( Bị chảy máu bên trái thì bấm bên trái, chảy bên phải thì bấm bên phải ).

Nếu cần thiết, có thể bấm cả hai bên.

Cách bấm: Ngón cái bấm huyệt 61, ngón trỏ bấm huyệt 16, ngón áp út bấm huyệt số 0.

Nếu người khác bị chảy máu thì làm thế nào?
Bấm tương tự lên các huyệt trên mặt, phía bị chảy máu.

Mọi người cần thực hành thử trên mặt mình, theo cách đã hướng dẫn để quen với cách bấm.

Như vậy, trong tình huống chảy máu cần cầm mau khẩn cấp chỉ cần bấm 3 huyệt 61, 16, 0.
Lưu ý: Lực bấm vừa phải, không cần quá mạnh!

Ps: Tổng hợp kinh nghiệm của thầy Tạ Minh
Ngoài ra, có thể bấm theo phác đồ đầy đủ trong hình bên dưới!

46 Mẹo Chữa Bệnh Đơn Giản Bằng Diện Chẩn và Đồng Ứng Liệu Pháp!( Nên lưu về tường để dùng khi hữu sự! )1. Bụi hoặc muỗi ...
28/09/2020

46 Mẹo Chữa Bệnh Đơn Giản Bằng Diện Chẩn và Đồng Ứng Liệu Pháp!
( Nên lưu về tường để dùng khi hữu sự! )

1. Bụi hoặc muỗi bay vào mắt, mắt bị cay xè:

Chớ có dụi mắt mà tổn thương đến giác mạc. Chỉ cần thè lưỡi liếm mép vài cái, nước mắt sẽ ứa ra “lùa vật lạ” ra khỏi mắt! Nên nhớ một điều: nếu bị mắt phải thì liếm mép bên trái và ngược lại.

2. Mắt nhắm không khít:

Một mắt nhắm không khít (do bị liệt dây thần kinh số 7 chẳng hạn), hơ ngải cứu bên mắt đối xứng. Ngày hơ nhiều lần, mỗi lần hơ độ vài phút, mắt sẽ dần dần nhắm khít.

3. Mũi nghẹt cứng:

Dù mũi bị nghẹt (tắc hoặc tịt) đến mức nào và đã bao lâu rồi, chỉ cần hơ ngải cứu vào đồ hình mũi trên trán – từ giữa trán (huyệt 103) đến đầu đôi lông mày (huyệt 26), độ một phút thôi, mũi sẽ thông thoáng ngay. Thật là một phép lạ đến khó tin.

4. Bả vai đau nhức, không giơ lên cao được:

Dùng đầu ngón tay trỏ gõ vài chụccái vào đầu mày (huyện 65) cùng bên đau. Vai hết đau và tay lại giơ lên cao được ngay.

5. B**g gân, trật khớp cổ tay:

Hãy bình tĩnh dùng ngón tay trỏ gõ mạnh độ vài chục cái vào sát đuôi mày cùng bên đau, cổ tay sẽ trở lại bình thường (muốn tìm điểm chính xác cần gõ, hãy lấy ngón tay miết nhẹ vào đuôi mày, thấy chỗ nào hơi lõm xuống, đấy là điểm chính xác – huyệt 100 – phản chiếu đúng cổ tay).

6. B**g gân, trật khớp vùng mắt cá chân:

Mắt cá chân bên nào bị trật khớp, hơ vùng mắt cá tay cùng bên. Mắt cá chân bị đau dù đã lâu ngày cũng lành trong vài phút. Các vận động viên quốc gia, các cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp hãy nhớ lấy mẹo này để tự cứu mình và giúp người.

7. Bắp chân bị vọp bẻ (chuột rút):

Dùng cườm tay day mạnh vào bắp tay độ vài chục cái, vọp bẻ hết liền. Nhớ vọp bẻ chân bên nào thì day mạnh bắp tay bên đó.

8. G*i gót chân

Nhớ hơ đúng điểm tương ứng bên gót chân đối xứng, chỉ vài phút thôi, gót chân hết đau liền. Hết sức cẩn thận kẻo bị phỏng.

09. Đầu gối đau nhức:

Hơ vùng khuỷu tay (cùi chỏ) cùng bên, chỉ độ vài phút đầu gối (khuỷu chân) hết đau liền.

10. Bị táo bón lâu ngày:

Dùng hai ngón tay (ngón trỏ và ngón giữa) lăn quanh miệng độ vài ba phút – khoảng độ 200 vòng, táo bón sẽ được giải quyết.

Cách lăn như sau: lăn từ mép phải vòng lên môi trên sang mép trái. Lăn tiếp vào phía dưới và giữa môi dưới rồi kéo thẳng xuống ụ cằm (hình thành một dấu hỏi lớn chiếm 3/4 quanh miệng). Nhớ lăn từ phải qua trái mới nhuận tràng, hết táo bón. Ngược lại lăn từ trái qua phải, sẽ càng táo bón hơn đấy!

11. Nhức đầu

a. Bất cứ nhức ở bộ phận nào trên đầu, mới nhức hay đã lâu, nặng hay nhẹ, chỉ cần hơ mu bàn tay trái (đã nắm lại) trên điếu ngải độ vài phút, nhức đầu như búa bổ cũng hết ngay. Nào! Thử làm xem.

b. Nếu nhức nửa đầu bên phải, hơ nửa mu bàn tay phía bên phải.

c. Nếu nhức nửa đầu bên trái, hơ nửa mu bàn tay phía bên trái.

d. Nếu nhức sau gáy, hơ phía cổ tay trên.

e. Nếu nhức đỉnh đầu, hơ ụ xương gồ cao nhất của ngón tay giữa.

f. Nếu nhức thái dương, chỉ cần hơ thái dương đối xứng 1 phút là hết ngay.

g. Nếu nhức cả hai bên thì hơ đi hơ lại.

h. Nếu nhức trán, hơ hết các đốt cuối của 4 ngón tay đã nắm lại.

i. Nếu chỉ nhức nửa trán bên phải, hơ 2 ngón tay bên phải.

k. Nếu chỉ nhức nửa trán bên trái, hơ 2 ngón tay bên trái.

l. Nếu chỉ nhức giữa trán, chỉ cần hơ 2 ngón giữa độ 1 phút là hết ngay.

k. Nếu nhức quanh đầu, hơ quanh mu bàn tay.

12. Mất ngủ

Bất kể mất ngủ vì nguyên nhân gì, xin nhớ không nên dùng thuốc ngủ vừa tiền mất vừa tật mang. Bí quyết đơn giản để có giấc ngủ ngon là: trước khi ngủ, hãy xoa đôi bàn chân cho ấm. Chân ấm là bụng ấm, thân ấm. Đó là điều kiện đầu tiên để ngủ ngon. Sau đó, dùng đầu ngón tay giữa bên trái gõ vào huyệt An thần (tức Ấn đường của Đông y hoặc huyệt 26 của Diện Chẩn – đầu đôi lông mày) độ vài phút sẽ làm nhịp tim ổn định và tinh thần được thư thái. Tay trái phản chiếu tim, Đầu ngón tay giữa phản chiếu cái đầu. Tâm và Thân an lạc – đó là những điều kiện cần thiết để ngủ ngon.

13. Sình bụng (do ăn không tiêu)

Nếu ở nhà, hãy lấy ngải cứu hơ vào rốn và quanh vùng rốn độ vài phút, bụng sẽ xẹp dần. Nếu đang ở bữa tiệc đông khách, hãy lặng lẽ đi ra ngoài đến chỗ vắng người, lăn bờ môi trên một lúc: trung tiện bùng phát, bụng hết sình ngay!

14. Bí tiểu

Người lớn hoặc các cháu nhỏ có lúc bí tiểu, hãy bình tĩnh vuốt cằm độ vài phút, “cơn bí” hết liền! Cách vuốt như sau: ngón tay cái giữ chân cằm, ngón tay trỏ vuốt ụ cằm từ trên xuống dưới nhiều lần. Bàng quang sẽ được tháo nút, nước tiểu tự do chảy (theo Diện Chẩn, ụ cằm phản chiếu bàng quang – huyệt 87). Các cụ già hay đi tiểu đêm, các cháu nhỏ hay đái dầm, trước khi ngủ độ 15 phút hãy tự vuốt cằm đi, các “tật” trên sẽ tự biến rất nhanh!

15. Nấc cụt

Đây là bệnh thông thường nhưng lại gây nhiều khó chịu, làm cho người bệnh mất ăn, mất ngủ. Ăn sao được khi vừa nâng bát cơm lên đã bị cơn nấc trào ngược rồi; ngủ sao được khi vừa nằm xuống, cơn nấc đã rộ lên âm vang khắp nhà! Có người phải nằm bệnh viện nhiều ngày mà vẫn không dứt căn. Chỉ cần làm một trong các hướng dẫn dưới đây, nấc cụt sẽ phải “đầu hàng”:

a- Dùng đầu ngón tay trỏ gõ mạnh vào đầu sống mũi nằm giữa cặp lông mày (huyệt 26 và 312) độ 15 cái. Nấc cụt biến mất đến khó tin (huyệt 26 là an thần và huyệt 312 thông nghẽn nghẹt).

b- Dùng đầu ngón tay trỏ vuốt mạnh từ đầu cánh mũi bên trái xuôi xuống chân cánh mũi độ 10-15 cái. Nấc cụt chịu phép phải nằm im, không dám ló mặt ra!

c- Dùng 4 đầu ngón tay (từ ngón trỏ đến ngón út co sát lại với nhau thành một đường thẳng) vạch dọc giữa đầu (từ trán ngược lên đỉnh đầu) độ 15 cái là hết nấc cụt! Xin hãy thử làm xem!

16. Đau bụng

Có thể khỏi nhanh bằng một trong những cách chữa đơn giản sau:

a- Hơ (bằng điếu ngải) hai lòng bàn tay độ 10 phút.

b- Hơ hai lòng bàn chân độ 10 phút.

c- Hơ rốn và lấy tay lăn quanh miệng.

17. Đau tử cung:

a- Gạch rãnh nhân trung từ đầu rãnh (sát mũi) đến cuối rãnh (sát bờ môi trên) nhiều lần.

b- Gạch hai bờ nhân trung và bờ môi trên nhiều lần.

18. Đau đầu dương vật:

Chỉ cần hơ đầu mũi độ 1 phút, đầu dương vật sẽ hết đau.

19. Đau khớp háng:

Gạch và hơ đường viền cánh mũi một lúc, khớp háng hết đau. Nhớ đau khớp háng bên nào thì gạch đường viền cánh mũi cùng bên.

20. Đau gót chân:

Hơ và gõ gót chân đối xứng độ vài phút, gót chân đang đau hết ngay.

21. Đau bụng kinh:

Hãy vuốt môi trên vài phút, đau bụng kinh hết liền.

22. Ho ngứa cổ:

a- Chà xát hai cổ tay vào nhau nhiều lần. Nhớ hai bàn tay phải nắm lại đã trước khi cọ xát vào nhau.

b- Hơ cổ tay trong của bàn tay trái đã nắm lại vài phút, ho và ngứa cổ hết rất nhanh. Xin chú ý, bàn tay trái nắm lại, lật úp xuống: mu bàn tay phản chiếu đầu não, cổ tay phản chiếu cổ gáy. Bàn tay trái nắm lại, lật ngửa ra: lòng bàn tay phản chiếu trái tim, cổ tay phản chiếu cổ họng.

23. Huyết áo cao:

Hãy lấy đầu ngón tay út bấm vào huyệt (huyệt 15) nằm sâu sau loa tai bên trái nhiều lần (độ 1 phút), huyết áp sẽ hạ liền.

24. Huyết áp thấp:

Vẫn dùng đầu ngón tay út bấm sâu vào huyệt (huyệt 19) đầu nhân trung sát với mũi nhiều lần, huyết áp sẽ được nâng lên liền.

25. Huyết trắng:

Dùng hai đầu ngón tay – ngón trỏ và ngón giữa – để nằm ngang chà xát hai bờ môi một lúc.

26. Bế kinh:

Dùng lăn đôi lớn lăn xuôi từ rốn xuống háng cho đến khi bụng nóng lên. Ngày lăn nhiều lần; độ 3-5 ngày, kinh nguyệt sẽ trở lại bình thường.

27. Lẹo mắt (lên chắp)

Chỉ cần bấm vào chân mụn lẹo vài lần, mụn lẹo sẽ tiêu rất nhanh. Nhớ phát hiện càng sớm, chữa càng khỏi nhanh.

28. Liệt mặt (Thần kinh số 7 ngoại biên)

Chỉ cần nhìn qua bên mặt bị liệt đã thấy hai triệu chứng rõ rệt: mắt nhắm không khít và một bên mép bị méo xệch xuống. Cách chữa hết sức đơn giản đến mức khỏi rồi mà vẫn tưởng như nằm mơ. Nhanh độ 3 ngày, chậm độ 7 ngày là khỏi.

a. Lấy điếu ngải cứu đốt hơ bên mắt lành độ vài phút, mắt có bệnh cứ từ từ nhắm lại. Mỗi ngày hơ vài lần, mắt nhắm lại dần dần.

b. Lấy tay hoặc lăn đôi nhỏ (trong bộ dụng cụ lăn, day huyệt) lăn chéo từ mép bị méo lên phía đỉnh tai. Ngày lăn nhiều lần, mỗi lần lăn độ vài phút. Chẳng bao lâu mép sẽ được kéo lên cân bằng với mép lành.

29. Mắt không di động được

Chỉ cần gõ vài chục lần vào huyệt nằm ở phía trước và dưới bình tai, mắt sẽ chuyển động bình thường. Huyệt này nằm ở ngay chỗ lõm sát bình tai, khi há miệng là sờ thấy ngay. Đây là huyệt số 0 của diện chẩn và đồng thời cũng là huyệt Thính hội của Đông y.

30. Đắng miệng

Dùng ngón tay trỏ gõ mạnh vào huyệt lõm kề sát bên dưới môi dưới (huyệt 235) độ vài chục cái, miệng hết đắng liền!

31. Hàm mặt đau cứng (Thần kinh số 5)

Lấy điếu ngải cứu hơ mặt ngoài ngón tay cái (cùng bên đau) từ ngón đến giáp cổ tay. Nhớ khi hơ bàn tay phải xòe ngửa ra. Chỉ cần hơ độ vài phút, hàm mặt đau cứng sẽ mềm dần và trở lại bình thường.

32. Hắt hơi liên tục

Sẽ hết ngay trong 1 phút nếu biết lấy ngải cứu hơ dọc từ giữa trán (huyệt 103) thẳng xuống đến giữa đôi lông mày (huyệt 26).

33. Ho khan lâu ngày

Lấy ngải cứu hơ hai bên sườn mũi, hai bên mang tai (từ đỉnh tai xuống đến dái tai), cổ tay trong (của bàn tay trái đã nắm lại) và trực tiếp cổ họng.

34. Hóc (hột trái cây, xương)

Bấm hoặc gõ vào huyệt sát đầu nhân trung (huyệt 19) nhiều lần.

35. Các khớp ngón tay khó co duỗi

Lấy ngải cứu hơ đầu xương các đốt ngón tay rồi lăn, vê các đốt đó nhiều lần.

36. Mắt quầng thâm

Lấy ngải cứu hơ trực tiếp vào mắt, quầng thâm sẽ tan dần.

37. Buồn ngủ nhíu mắt lại

Vò hai tai một lúc là tỉnh ngủ liền.

38. Nhảy mũi

Lấy ngón tay trỏ cào từ cửa lỗ mũi xuống đến môi vài chục cái là hết nhảy mũi!

40. Quai bị

Bấm huyệt ngay sát dái tai bên sưng (huyệt 14) rồi hơ dái tai đối xứng độ vài phút. Ngày làm nhiều lần, quai bị tiêu rất nhanh.

41. Nhức răng

Hơ ngải cứu quanh vùng má bên đau độ 1 phút, răng hết nhức liền.

42. Mắt đỏ

Gạch đầu gan bàn tay dưới 3 ngón tay giữa độ vài phút, mắt đỏ hết rất nhanh. Nhớ mắt đỏ bên nào, gạch bàn tay cùng bên.

43. Mắt nhức

Hãy dùng đầu ngón tay trỏ cào đỉnh tai (huyệt 16) bên mắt nhức độ một lúc, mắt hết nhức liền.

44. Mắt nháy (giật)

Dùng đầu ngón tay trỏ cào vào phần dưới (huyệt 179) của đầu lông mày bên mắt bị nháy một lúc, mắt sẽ hết giật.

45. Tê lưỡi, cứng lưỡi

a- Hơ ngải cứu xong rồi vê ngón tay cái bàn tay trái một lúc, lưỡi hết tê.

b- Gõ vào huyệt sát trên dái tai độ 1 phút, hết cứng lưỡi.

46. Khan tiếng

a- Chà xát vùng gáy cho nóng lên độ vài phút là hết.

b- Dùng ngón tay trỏ gõ mạnh vào vùng trước dái tai nhiều lần trong ngày

Lưu ý:
+ Đây là các mẹo chữa bệnh đã được giản lược để dễ nhớ, dễ thực hành.
+ Nếu tình trạng không thuyên giảm, vui lòng tham khảo thêm các phác đồ điều trị đầy đủ để đạt kết quả cao nhất!

DIỆN CHẨN - Y THUẬT VIỆT NAM!Chăm sóc sức khỏe bằng các liệu pháp tự nhiên, không dùng thuốc chính là xu hướng của ngành...
27/09/2020

DIỆN CHẨN - Y THUẬT VIỆT NAM!

Chăm sóc sức khỏe bằng các liệu pháp tự nhiên, không dùng thuốc chính là xu hướng của ngành chăm sóc sức khỏe thế giới.

Một trong những phương pháp được đón nhận rộng rãi tại Việt Nam và trên thế giới trong suốt 40 năm qua, đó chính là Diện chẩn.
Diện chẩn - Điều khiển liệu pháp chính là phát minh y học của GS.TSKH Bùi Quốc Châu - Một nhà nghiên cứu Y học dân tộc ưu tú của Việt Nam!

Cách đây 40 năm, phương pháp này đã được chính các lãnh đạo Đảng và Nhà nước Việt Nam hết sức quan tâm và tạo điều kiện cho thầy Bùi Quốc Châu tiếp tục nghiên cứu, phát triển.
Thầy đã được các đồng chí lãnh đạo Võ Văn Kiệt, Mai Chí Thọ, Nguyễn Văn Linh, Võ Nguyên Giáp...đánh giá rất cao và rất ủng hộ phát minh này. Bằng chứng là sau các cuộc gặp mặt làm việc trực tiếp với từng vị lãnh đạo và thầy được cấp căn nhà 19B, Phạm Ngọc Thạch, Q3 để phục vụ quá trình nghiên cứu, phát triển, phổ biến phương pháp y học dân tộc này đến với quần chúng nhân dân.

Không chỉ dừng lại ở đó, Diện chẩn đã được chào đón rộng rãi ở nhiều quốc gia có nền y học tiên tiến trên thế giới.
Trong số đó, phải kể đến nước CuBa, Ý, Nhật, Pháp, Tây Ban Nha, Nga...
Thầy Bùi Quốc Châu và cộng sự đã được các nước mời sang đào tạo về Diện chẩn và điều trị bệnh bằng Diện chẩn với thời gian hàng năm trời, từ cách đây gần 40 năm.
Cho đến nay, Diện chẩn đã mở rộng ra trên 50 quốc gia, nhiều trung tâm Diện chẩn đã được thành lập tại Ý, Tây Ban Nha, Nhật, Pháp...

Nói như Giáo sư Trần Văn Khê lúc sinh thời: " Mặc dù chú cháu mình đi khác hướng đường, nhưng mà cùng chung một lý tưởng. Tôi dùng âm nhạc để giới thiệu về dân tộc Việt Nam, đem văn hóa dân tộc ra giới thiệu với thế giới để thế giới thương dân tộc Việt Nam, kính phục dân tộc Việt Nam. Nhưng mà, cái đó cũng chỉ là để thỏa mãn, để vui chơi, giải trí. Nhưng công việc làm của Bùi Quốc Châu là để trị bệnh, có một tính cách cứu nhân độ thế. Công việc làm đó lại càng ngày càng phổ biến rộng hơn nữa. Tôi rất vui mừng, công việc của Bùi Quốc Châu làm rộng rãi hơn chú, sẽ còn đi xa hơn, đi sâu hơn, bổ ích hơn cho cuộc đời!"

Không phải một phát minh y học nào cũng dễ dàng được phổ cập, dễ dàng được phát triển trong sự ảnh hưởng mạnh mẽ của Tây y và Trung y như thế!
Do đó, có thể nói, Diện chẩn xứng đáng là một niềm tự hào của dân tộc ta!
Những thành tựu đó của Diện chẩn, với sự ghi nhận rộng rãi, sự ủng hộ của những nhà lãnh đạo, sự phát triển vượt bậc trong 40 năm qua, dù thế nào đi nữa, cũng không nằm ngoài 3 chữ: TÍNH HIỆU QUẢ!

Thiết nghĩ, SỨC KHỎE LÀ VÀNG!

Khi bạn và người thân đối mặt với những tình huống bất trắc về sức khỏe ( Đó là điều không thể tránh khỏi! ), thì điều quan trọng nhất chính là SỰ HIỂU BIẾT!

Khi bạn có hiểu biết về Y THUẬT, bạn có được một điều vô cùng quý giá, đó chính là SỰ TỰ TIN!

TỰ TIN để không rơi vào tình trạng hoang mang, hoảng loạn, lo lắng. TỰ TIN để BÌNH TĨNH cứu lấy chính mình và người thân của mình!

Vì lẽ, xưa nay, y thuật luôn mang lại một sự bí hiểm đối với đại đa số quần chúng nhân dân.
Tuy nhiên, cái hay của Diện chẩn - Việt Y Đạo chính là phá bỏ bức màn bí ẩn đó, để mang y thuật đến với đại đa số quần chúng nhân dân!
Đó cũng chính là tư tưởng chủ đạo của Thầy Bùi Quốc Châu: "Đơn giản hóa để Đại chúng hóa!"

Do đó, chúng tôi, với tinh thần tự hào dân tộc, với kinh nghiệm nhiều năm nghiên cứu thực hành các phương pháp Chăm sóc sức khỏe tự nhiên, rất mong muốn mang tinh thần của Diện chẩn, mang tinh hoa y học của dân tộc Việt Nam đến với nhiều gia đình và người dân Việt Nam hơn nữa.

Chúng tôi sẽ tổ chức các chương trình Hội thảo chia sẻ về Diện chẩn - Điều khiển liệu pháp thông qua các buổi gặp gỡ, các buổi hội họp online, offline.

Hy vọng rằng, thông qua các chương trình này, mọi người sẽ có thêm những kiến thức và kỹ năng học và trang bị những y thuật đơn giản mà hữu ích để tự chăm sóc sức khỏe bản thân, người thân và có thể giúp đỡ những người xung quanh trong những lúc hữu sự!

Ps: Vui lòng nhắn tin đăng ký với BTC để chúng tôi sắp xếp lịch hỗ trợ!

Thời gian: Các buổi tối trong tuần, từ 20h-21h30
Cách thức: Online hoặc offline
Chương trình hoàn toàn miễn phí!

CHÚC SỨC KHỎE TẤT CẢ MỌI NGƯỜI!
BTC

DIỆN CHẨN LÀ GÌ? Diện Chẩn là tên gọi rút gọn của phương pháp Diện Chẩn – Điều khiển Liệu Pháp (Face diagnosis – Cyberne...
27/09/2020

DIỆN CHẨN LÀ GÌ?
Diện Chẩn là tên gọi rút gọn của phương pháp Diện Chẩn – Điều khiển Liệu Pháp (Face diagnosis – Cybernetic Therapy – FACY). Đây là một phương pháp phòng và trị bệnh mới của Việt Nam, ra đời vào đầu năm 1980 do nhà nghiên cứu y học dân tộc, GS TSKH Bùi Quốc Châu sáng tạo. Khác với Châm cứu, cần bắt mạch để biết bệnh và châm vào hệ kinh lạc để chữa bệnh. Diện Chẩn là phương pháp chẩn đoán và chữa bệnh qua da trên vùng mặt và toàn thân bằng cách tác động lên những điểm rất nhạy cảm (gọi là Sinh Huyệt) và vùng tương ứng với các bộ phận bị bệnh trên toàn thân được gọi là Đồ Hình Phản Chiếu.

Diện chẩn là phương pháp chẩn đoán các dấu hiệu trên khuôn mặt.
Có thể định nghĩa, Diện Chẩn là phương pháp chẩn đoán các dấu hiệu về tình trạng sức khỏe của con người thể hiện trên khuôn mặt, từ đó có thể phát hiện và tác động để gia tăng sức khỏe, phòng và điều trị các chứng bệnh.

Qua nghiên cứu cho thấy, khuôn mặt được xem như là điểm thông tin và kiểm soát toàn bộ các hoạt động của cơ thể, dựa trên sự phản chiếu và đồng ứng với các bộ phận ngoại vi và nội tạng của cơ thể. Mỗi điểm phản xạ trên khuôn mặt sẽ phản ảnh một cơ quan tương ứng. Từ cơ sở này, ta có thể tác động lên các huyệt đạo trên khuôn mặt để tạo sự biến chuyển trên các cơ quan tương ứng đó.

Hiện nay, Diện Chẩn không chỉ là chẩn đoán trên khuôn mặt, mà dựa trên thuyết Đồng ứng, đã mở rộng việc chẩn đoán và trị liệu ra toàn thân, đặc biệt là trên bàn tay, cánh tay, từ đó có thể tác động trên bàn tay, bàn chân, cánh tay, cổ tay để hỗ trợ việc trị liệu các vấn đề về sức khỏe của toàn thân. Vì Diện Chẩn là một dạng phản xạ học đa hướng và đa hệ, nó khác biệt với phản xạ học cổ điển có tính nhất hướng.

Tại sao gọi là Diện Chẩn Điều Khiển Liệu pháp?
Sở dĩ gọi là Điều Khiển Liệu Pháp là vì ta có thể tác động vào các huyệt đạo ở vùng mặt và một số vùng trên cơ thể bằng các kỹ thuật như ấn, day, lăn, xoa, cào... thông qua các công cụ của Diện Chẩn và sự tác động đó có khả năng điều khiển để tạo ra những hiệu ứng trên các bộ phận nội tạng và ngoại vi của cơ thể.

Việc điều khiển gây ra những tác động cũng giống như ta điều khiển cái remote của các loại máy móc ( TV, Máy Lạnh, Quạt máy...) để khởi động hay tắt các hoạt động. Khi ta tác động lên các huyệt đạo cũng chính là việc khởi động cho quá trình điều chỉnh trên các bộ phận của cơ thể , tạo ra những biến chuyển cho toàn bộ hệ thống sức khỏe của người bệnh.

Lịch sử phương pháp Diện Chẩn
Trong lịch sử Y học Thế giới đã có một số phương pháp tương tự với DIỆN CHẨN – ĐIỀU KHIỂN LIỆU PHÁP(FACY) nếu xét qua về mặt hình thức – vì nó dựa trên nguyên tắc phóng chiếu (Projection) – trong khi FACY dựa trên nguyên tắc PHẢN CHIẾU (REFLECTION) là một hình thức tương tự PHÓNG CHIẾU NHƯNG ĐA CHIỀU (MULTI - DIRECTION) TRONG KHI PHẢN CHIẾU CHỈ CÓ MỘT CHIỀU TRÊN MỘT MẶT PHẲNG DUY NHẤT. PHẢN CHIẾU (REFLECTION) CÓ THỂ GỌI LÀ PHẢN XẠ NHIỀU CHIỀU VÀ ĐA HỆ (MULTISYSTEM). DO ĐÓ NÓ CŨNG KHÁC PHẢN XẠ CỔ ĐIỂN LÀ PHẢN XẠ ĐƠN HỆ.

Các phương pháp đó là Vọng chẩn của Đông Y cổ truyền (Médecine Traditionnelle Orientale). Nhãn chẩn (L’Iriscopie) của Ignas Peczely (1980) phương pháp kích thích vùng bên trong mũi để trị bệnh (Réflexothérapie endonasale) của Bonnier (1930), cũng như của Asuero (1931), Diện châm (Faciopuncture), Tỵ châm (Nasopuncture) của Trung Y (Médecine Chinoise), Nhĩ châm (Ariculothérapie) của P.Nogier, thủ châm (Manopuncture) và túc châm (Podopuncture). Mỗi phương pháp trên đều có hình chiếu hoặc những điểm tương ứng với các bộ phận của cơ thể, dùng để chuẩn đoán hay trị bệnh.

ĐƠN GIẢN HÓA ĐỂ ĐẠI CHÚNG HÓA!BIẾN NGƯỜI BỆNH THÀNH NGƯỜI TỰ CHỮA BỆNH!Vậy là tôi cũng vừa tốt nghiệp Khóa học Diện chẩn...
27/09/2020

ĐƠN GIẢN HÓA ĐỂ ĐẠI CHÚNG HÓA!
BIẾN NGƯỜI BỆNH THÀNH NGƯỜI TỰ CHỮA BỆNH!

Vậy là tôi cũng vừa tốt nghiệp Khóa học Diện chẩn - Điều khiển liệu pháp tại Văn phòng Diện chẩn vì cộng đồng!
Rất may mắn là cuối khóa học lại được giao lưu trực tiếp với Thầy tổ - Gs.TSKH Bùi Quốc Châu!
Thầy là Nhà phát minh ra Phương pháp Diện chẩn - Điều khiển liệu pháp được cả thế giới công nhận và theo học từ 40 năm trước cho đến nay.

Thầy đã được lãnh tụ Fidel Castro mời sang Cuba để giảng dạy về Diện chẩn cho đội ngũ bác sĩ Cuba trong suốt 6 tháng liền!
Các nước Nga, Pháp, Ý, Tây Ban Nha, Nhật Bản...đều đã mời thầy sang trực tiếp giảng dạy và chữa bệnh bằng phương pháp Diện chẩn từ hàng chục năm trước đây!
Ngày nay, Diện chẩn đã lan tỏa ra trên 50 quốc gia.
Các trung tâm, văn phòng Diện chẩn đã được mở nhiều nơi trên thế giới!
Thật tự hào - Vì phát minh y học được cả thế giới công nhận và theo học lại đến từ Việt Nam!

Tôi còn nhớ, Giáo sư Trần Văn Khê lúc sinh thời đã từng nói trong một video: " Mặc dù chú cháu mình đi khác hướng đường, nhưng mà cùng chung một lý tưởng. Tôi dùng âm nhạc để giới thiệu về dân tộc Việt Nam, đem văn hóa dân tộc ra giới thiệu với thế giới để thế giới thương dân tộc Việt Nam, kính phục dân tộc Việt Nam. Nhưng mà, cái đó cũng chỉ là để thỏa mãn, để vui chơi, giải trí. Nhưng công việc làm của Bùi Quốc Châu là để trị bệnh, có một tính cách cứu nhân độ thế. Công việc làm đó lại càng ngày càng phổ biến rộng hơn nữa. Tôi rất vui mừng, công việc của Bùi Quốc Châu làm rộng rãi hơn chú, sẽ còn đi xa hơn, đi sâu hơn, bổ ích hơn cho cuộc đời!"

Hệ thống Diện chẩn - Điều khiển liệu pháp ở một khía cạnh nào đó, có thể so sánh với Trung y và Tây y.
Trung y phát triển hàng ngàn năm dựa trên việc tìm ra hệ thống kinh lạc. Tây y phát triển trên nền tảng thần kinh học, giải phẩu học, hóa sinh học.
Mỗi một nền y học đều có những thế mạnh riêng, những lợi ích vượt trội riêng mà không thể phủ nhận.
Nhưng, Diện chẩn tự hào là một đóng góp quan trọng, có bản sắc riêng của Việt y cho nền y học thế giới.

Tuy nhiên, tôi cho rằng, điều tuyệt vời nhất mà Diện chẩn - Điều khiển liệu pháp của thầy Bùi Quốc Châu đã làm được, và làm tốt hơn rất nhiều so với Trung y và Tây y ( hay nói khác đi, Trung y và Tây y đều rất khó để làm được điều này ) đó chính là tư tưởng chủ đạo của Diện chẩn: "ĐƠN GIẢN HÓA ĐỂ ĐẠI CHÚNG HÓA!", "BIẾN NGƯỜI BỆNH THÀNH NGƯỜI TỰ CHỮA BỆNH!"

Xin cảm ơn Thầy Bùi Quốc Châu đã phát minh ra Diện chẩn - Điều khiển liệu pháp với một lý tưởng vô cùng cao đẹp và đã hiện thực hóa điều đó trong suốt 40 năm qua!
Xin cảm ơn thầy Bùi Minh Trí, thầy Võ Như Vũ, cô Trần Hàn Giang, thầy Trung tại Trung tâm Diện chẩn vì cộng đồng đã nhiệt tình chia sẽ, hướng dẫn Vũ và lớp học trong suốt thời gian qua!

Ps: Bản thân tôi từ nhỏ đã ốm yếu hay bệnh, và cũng đã từng trải qua một cơn bạo bệnh nên rất quan tâm đến sức khoẻ.
Cũng may là chăm chơi thể thao nên lớn lên sức khoẻ cải thiện nhiều. Sau này lại có duyên tìm hiểu và thực hành về dinh dưỡng học nên sức khoẻ càng ngày càng được cải thiện hơn nữa.
Nhưng điều đó vẫn chưa đủ!
Tôi đã từng chứng kiến những người thân trong gia đình ra đi vì bệnh tai biến, vì bệnh ung thư mà hầu như không giúp ích được gì nhiều.
Giá như, trong mỗi gia đình, nhà nhà, người người đều có những hiểu biết về y thuật cơ bản, để tự cứu mình, cứu người thì hay biết mấy!
Bắt đầu hành nghề dạo ^^

"Cho thuốc không bằng cho phương,
Không là lương tướng, cũng là lương y!"
Hải Thượng Y Tông Tâm Lĩnh

52 phác đồ Diện Chẩn BQC thường dùng! ( Nên share về tường để dùng khi hữu sự )-------------------------+++-------------...
27/09/2020

52 phác đồ Diện Chẩn BQC thường dùng!
( Nên share về tường để dùng khi hữu sự )
-------------------------+++-------------------------
1. Bộ Thăng khí: 127, 50, 19, 37+, 1, 73, 189, 103, 300+, 0+
2. Bộ Giáng khí: 124, 106, 34, 26*, 61, 3*, 143*, 39, 14, 222, 85, 156, 87*
3. Bổ âm huyết: 22, 127, 63, 17, 113, 7, 63, 50, 19, 39, 37, 1, 290, 0
4. Trừ đàm thấp thủy, trị thấp khớp, ho đàm, béo phì: 103, 1, 290, 19, 64, 39, 63, 53, 222, 236, 85, 127, 235, 22, 87
5. Bộ điều hòa: 34*, 290*, 156*, 132, 3
6. Tiêu viêm khử ứ: 156, 38, 7, 50, 37, 3, 61, 290, 16, 26 + phản chiếu bộ vị.
7. Tăng tiết dịch: 26*, 3, 29, 19, 39, 85*, 14*, 275*, 87*, 53*, 61.
8. Giảm tiết dịch: 103, 1, 0*, 15, 16*, 126, 7, 63, 17, 287*, 22, 50*, 53, 29, 60, 21, 235, 3, 61*
9. Tăng huyết áp: 50*, 19*, 1*, 63*,53, 103, 126, 300, 37, 23, 6, 0
10. Hạ huyết áp: 54*, 55*, 26*, 61*, 3*, 8*, 12, 14*, 15*, 16*, 29, 222, 85*, 87*, 51*, 41*, 180, 100, 39, 188, 277, 173, 143
11. Cấp cứu ngất xỉu, trúng gió: 19, 127, 69, 0
12. Tiêu viêm tiêu độc: 26*, 3*, 38*, 50, 41, 60*, 57, 61, 143*, 85, 29, 5*, 17* hoặc 41, 143, 127, 19, 37, 38
13. Tiêu đờm, long đờm: 132*, 37, 26, 275*, 3, 467, 491, 28, 14, 64, hoặc 491, 467*, 61 hoặc 565, 432, 61
14. Tiêu bướu, khối u: 104*, 61*, 38*, 184, 17*, 103, 39*, 73, 8, 12, 15, 127, 19, 1, 64, 12, 233
15. Tiêu mỡ: 233*, 41*, 50*, 37, 38, 85, 113, 7, 9
16. Tiêu hơi, thông khí: 104*, 3, 26, 38*, 19*, 28, 235, 143, 184, 50, 189
17. Giải độc: 26*, 3, 85*, 87*, 38*, 50, 41, 290, 235, 14, 15, 1, 9, 0, 143
18. Tức ngực, khó thở: 7, 3, 8, 61, 57, 269, 189
19. Cầm mồ hôi, tiết dịch: 300, 60, 61, 41, 50, 37
20. Cầm tiểu: 0*, 16*, 37*, 87, 103, 1, 300, 126
21. Lợi tiểu: 26*, 3*, 29*, 222*, 85*, 87*, 40*, 37, 290, 235
22. Tê, mất cảm giác: 37*, 60*, 50, 59, 8, 58*, 40
23. Mề đay: 124, 34, 60, 26, 61, 45, 85, 13, 50, 3, 41, 38, 17, 87, 51 hoặc 61, 3, 184, 50, 87 hoặc 41, 50, 17, 7, 60, 85
24. Mất ngủ: 124, 34, 267, 217, 51
25. Suy nhược thần kinh: 22, 127, 19, 50, 1, 188, 106, 34, 124, 103
26. Suy nhược cơ thể: 41, 50, 19, 45, 39, 37, 0 hoặc 22, 127, 63, 19, 7, 1, 50, 37
27. Trị đau, giảm đau: 41*, 87*, 85*, 60*, 34*, 61*, 14, 16*, 50, 38, 156*, 37, 39, 0, 19
28. Trị nhức: 39*, 45*, 43*, 300*, 17, 301, 302, 560, 0*
39. Chống (điều chỉnh) co cơ: 19, 16, 61, 156, 127, 477
30. Đau nhức cơ bắp: 17, 7, 19, 38, 29, 222, 156, 61, 37, 8, 189, 405
31. Viêm cơ khớp: 19, 61, 16, 156, 50
32. Làm mát (hạ nhiệt): 26*, 180*, 100, 8, 3*, 143*, 38, 29, 222, 85, 235, 87, 16*, 14*, 15* hoặc 51, 173, 253
33. Viêm xoang, thiểu năng tuần hoàn não: 127, 1, 189, 61, 3, 188, 59, 130, 100, 34, 102, 103, 124, 300, 126, 16, 0, 14
34. Phác đồ 12 dây thần kinh: 197, 34, 184, 491, 61, 45, 5, 74, 64, 113, 511, 156, 7
35. Tăng cường tính miễn nhiễm: 7, 135, 156, 50, 37, 300, 127, 6, 0, 26, 3, 38, 17
36. Tăng cướng sức đề kháng: 0, 300*, 1*, 50, 37*, 19*, 7, 113*, 127, 22, 45, 61, 17*, 156
37. Làm ấm (Nóng): 127*, 6*, 17, 7, 63, 19, 37, 50, 43, 1, 73*, 300*, 559, 558, 0
38. Nhức răng: 34, 60, 57, 180, 0, 188, 196
49. Chống co giật: 50*, 19*, 103*, 124, 26, 63
40. Trị ngứa: 17*, 61*, 3*, 38, 85, 50*, 41*, 124, 34, 0, 26
41. Phác đồ tạng phủ, bệnh do nhiều tạng gây ra: 8, 50, 37, 3, 17, 22, 127, 41, 39, 189, 38, 63, 60, 59, 124, 106, 423, 422, 113
42. Phác đồ nội tiết tố, trị tiểu đường, bướu cổ: 26, 8, 20, 63, 7, 113, 17 (hoặc thêm 290, 235, 189, 103)
43. Phác đồ tứ đại huyệt, trị ngứa, nổi mề đay, dị ứng, mệt mỏi: 26, 19, 127, 0
44. Chóng mặt: 63, 106, 65, 60, 8, 50, 26, 15, 127, 19, 0
45. Bồi bổ & thông khí huyết: 22, 43, 62, 37, 7, 73, 58, 127, 156, 50, 51, 189, 477, 65, 15, 26, 59
46. Hay quên, kém trí nhớ: 22, 127, 63, 28, 45, 106, 103, 60, 50, 1, 106, 103, 124, 34
47. Phác đồ 6 vùng phản chiếu: 179, 283, 188, 196, 18, 12, 330, 61, 74, 64, 39, 49, 36, 8, 305, 222, 156, 347, 127, 16, 138, 79, 0, 14, 54, 55, 15
48. Cầm máu: 16*, 61*, 0*, 50*, 37, 6, 17, 7, 287*, 124, 34
49. Chống nghẽn, nghẹt: 19*, 14*, 275*, 61*, 39, 26, 312, 184, 85, 87
50. Làm nhuận trường: 19*, 143*, 3, 41*, 38*, 50, 97, 98, 29, 70
51. Chống run rẩy: 50, 45*, 300, 127*, 73, 6, 124, 0
52. Yếu sinh lý: 0*, 170, 19, 63, 360, 300*, 73, 1, 37, 1, 37*, 17*, 7*, 127*, 156*.......======........======.........
Ghi chú:
- Huyệt có dấu * là huyệt quan trọng cần phải có
- Huyệt có dấu + là huyệt dương, nằm bên phải mặt

Address

166/11/8 Lê Trung Đình, Sơn Kỳ, Tân Phú
Ho Chi Minh City
700000

Telephone

+84941319513

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Chăm Sóc Sức Khỏe - Dinh Dưỡng Khoa Học - Diện Chẩn Thực Hành posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Business

Send a message to Chăm Sóc Sức Khỏe - Dinh Dưỡng Khoa Học - Diện Chẩn Thực Hành:

Share