27/11/2018
6 tác dụng khách quan khi châm vào huyệt, rõ nhất là tác dụng giảm đau, tác dụng này đạt được bởi sự nâng ngưỡng đau và đây cũng là cơ sở sinh lý học của “Châm tê”. Tác dụng giảm đau của châm cứu thường gặp trong một số bệnh như đau khớp, đau răng, đau đầu, đau lưng v v…Một số huyệt có tác dụng rõ hơn so với các huyệt khác được gọi là “ tính đặc hiệu của huyệt châm cứu”.
Tác dụng thứ hai khi châm cứu vào những huyệt đặc hiệu là an thần. Một số bệnh nahan có thể ngủ thiếp đi trong quá trình châm cứu, khi tỉnh dậy hoàn toàn tỉnh táo. Trên điện não đồ thấy giảm song Delta và Theta trong suốt quá trình châm cứu. Tác động này được triệt để vận dụng trong điều trị các bệnh mất ngủ, bệnh lý thần kinh, trạng thái buồn bực, lo lắng, hysteria, chứng nghiện, động kinh, và các bệnh về rối loạn tâm thần. Người ta cho rằng hiệu quả an thần là do tác dụng vào vùng não giữa và các vùng khác trên não như vùng hạch cơ bản và hệ thống đường đan ( the basal ganglia and the raphe system ). Các tác dụng đó cũng thấy trên việc trao đổi chất của tế bào não như có sự tang hàm lượng dopamine chứa trong não sau khi châm cứu. Điều này đã giải thích được cho hiệu quả của châm cứu trong điều trị một số bệnh như rối loạn tâm thần, Pakinson. Ở chứng này thường có sự giảm về số lượng dopamin trong não.
Tác dụng thứ ba rất quan trọng được gọi là tạo ra trạng thái tĩnh của cơ thể ( ổn định nội môi ) hoặc tác dụng điều hòa có nghĩa là điều hòa cơ thể theo trạng thái cân bằng âm dương. Bình thường theo y học hiện đại trạng thái tĩnh của cơ thể được duy trì là do các hoạt động làm cân bằng hệ thần kinh thực vật và hệ nội tiết – thể dịch. Thêm vào đo còn có rất nhiều các cơ chế tạo ra trạng thái cân bằng tĩnh khác nữa của cơ thể để điều hòa các chức năng sống như hô hấp, nhịp tim, huyết áp, bài tiết, trao đổi chất, nhiệt độ, cân bằng ion trong máu và rất nhiều thông số khác. Các cơ chế này bị rối loạn nghiêm trọng trong rất nhiều bệnh và trong các trường hợp đó thì châm cứu lại rất hiệu quả trong việc hồi phục lại tình trạng cân bằng trước đây của cơ thể.
Thứ tư là tác dụng tăng cường miễn dịch, nhờ đó tăng sức đề kháng của cơ thể với bệnh tật. Điều này là do sự tang bạch cầu, các loại kháng thể, gammaglobulin và các cơ chế khác làm tang sức đề kháng tự nhiên của cơ thể. Nhiều trường hợp đã ghi nhận sự tang gấp đôi, gấp 4 lần các kháng thể được tạo ra do các tác dụng của các hệ mô lưới màng trong ( reticulo – endothelial ). Nhờ đó mà châm cứu rất hữu hiệu trong việc chống các bệnh truyền nhiễm. Một số nhà châm cứu còn cho rằng châm cứu còn nâng cao mức interferon trong cơ thể nhờ đó có tác dụng chống nhiễm trùng, thậm chí còn có thể tham gia điều hòa miễn dịch đặc hiệu. Châm cứu cũng được chỉ định điều trị trong các trường hợp kháng và dị ứng với kháng sinh và trong những nhiễm trùng mãn tính mà kháng sinh đã mất tác dụng hoặc có thể tang các tác dụng phụ rất nguy hiểm.
Một số huyệt đặc hiệu nhất định còn được dùng để nâng cao hiệu quả miễn dịch không đặc hiệu.
Tác dụng thứ năm của châm cứu là tác dụng tâm lý. Tác dụng này là trấn an ngoài tác dụng an thần thuần túy. Tác dụng tâm lý ở đây không nên lẫn lộn với tác dụng của thôi miên hoặc tự kỉ ám thị. Những tác dụng này xảy ra sau khi châm cứu và do đó nó không phải như nhiều người phê phán bằng tiền đề thành công của châm cứu là thường áp đặt. Thôi miên chỉ tác động đến 10-15% dân số, trong khi đó châm tê ở mức độ nhất định có thể thành công ở bất cứ người nào, con vật nào. Những bệnh nhân có ngưỡng thôi miên thấp có phản ứng hoàn toàn tốt với châm cứu giống hệt với những người có ngưỡng thôi miên cao. Điều này cho thấy rằng việc ám thị không thể là một nhân tố cần thiết đối với hiệu quả điều trị bằng châm cứu. Cũng như vậy các giai đoạn luyện tập kéo dài rất cần thiết đối với gây tê bằng thôi miên. Trong khi đó các phẫu thuật vẫn có thể tiến hành được dưới sự gây tê bằng châm cứu. Các cử động và nét mặt tự phát của bệnh nhân châm cứu hoàn toàn không giống như cử động và nét mặt của người bị thôi miên là cử động như người máy. Thêm nữa, việc tiêm thuốc gây tê tại chỗ có hiệu quả giống như gây tê của châm cứu. Do vậy cơ chế gây tê của châm cứu là cơ chế thần kinh chứ không phải cơ chế thôi miên. Chất naloxon làm mất tác dụng gây tê của châm cứu chứ không làm mất tác dụng gây tê của thôi miên.
Tác dụng thứ sáu là sự kích thích hồi phục vận động ở bệnh nhân liệt. Thậm chí các trường hợp liệt vận động lâu cũng phản ứng rất tốt với liệu pháp châm cứu, mặc dù các hình thức điều trị trước đó đều thất bại. Sự lý giải vốn phức tạp bao gồm cả việc kích thích vào tế bào sừng tủy sống và cơ chế phản hồi sinh học được diễn ra qua các tế bào Renshaw vad Cajai ở tủy sống hoặc các tế bào tương đương của não.