Trung tâm hỗ trợ xoa dịu Aurora

Trung tâm hỗ trợ xoa dịu Aurora Hy vọng có thể đem ánh sáng đến cho muôn người

Hôm nay 1/5, cùng nhau ta hân hoan mừng kính Thánh Giuse lao độngThánh cả Giuse, một vị Thánh thầm lặng, nhưng lại đóng ...
01/05/2026

Hôm nay 1/5, cùng nhau ta hân hoan mừng kính Thánh Giuse lao động

Thánh cả Giuse, một vị Thánh thầm lặng, nhưng lại đóng vai trò vô cùng quan trọng trong công trình cứu chuộc loài người của Thiên Chúa chúng ta. Thuở ban đầu, khi biết vị hôn thê của mình là Đức Maria bỗng dưng mang thai mà không phải là con của mình, thay vì tố cáo Mẹ để Mẹ bị ném đá theo luật, Thánh cả đã chọn cách nhẫn nhịn và định tâm rời đi một cách kín đáo, đó là một sự công chính đầy lý trí mà không phải ai cũng làm được. Sau đó, khi được biết rằng Mẹ Maria mang thai là do quyền năng của Chúa Thánh Thần, và được mời gọi để đón Mẹ về nhà chăm sóc, Thánh cả đã lập tức vâng lời. Một khi đón nhận Mẹ là Ngài đã chấp nhận hy sinh, từ giờ phút đó Ngài đã không chỉ sống cho bản thân mình mà là sống cho gia đình, sống cho Thiên Chúa. Ngài trở thành bạn trăm năm thanh sạch của Đức Maria, thành cha nuôi của Đức Giêsu Kitô, và là trụ cột, bảo vệ Mẹ Maria khỏi sự nguy hiểm cũng như chăm lo cho Mẹ cùng Đức Giêsu trong cuộc sống hằng ngày. Ngài đã không ngại vất vả, chịu thương chịu khó làm việc lao nhọc để trang trải cho một nhà ba người. Trong Thánh Kinh, chúng ta không thấy Thánh Giuse nói một lời nào. Điều đó cho thấy rằng Ngài là một con người nói ít, làm nhiều, sống thầm lặng để lắng nghe và thực thi Thánh ý của Thiên Chúa. Thánh cả đã vâng phục, hy sinh, kiên trì và trung thành trong ơn gọi như vậy cho đến hơi thở cuối cùng, chính vì thế mà Ngài thường được nhiều tập thể và cá nhân nhận làm bổn mạng, đặc biệt là giới gia trưởng.

Noi gương Thánh cả Giuse cần lao, chúng con hy vọng rằng bản thân mình cũng sẽ kiên trì lao động, không ngại xả thân để chăm lo cho gia đình, không ngại cống hiến phục vụ anh chị em mình, và hy vọng rằng chúng con cũng sẽ kiên trì trong sứ vụ đem ánh sáng đến cho muôn người dẫu cho có muôn vàn khó khăn, gian nan, thử thách, vì "mỗi Kitô hữu là một môn đệ thừa sai". Ngày hôm nay, nguyện xin Chúa ban bình an và phúc lành cho những ai nhận Thánh Giuse lao động làm quan thầy, và xin dâng lên những ước nguyện riêng của mỗi người chúng con. Xin Thánh cả Giuse chuyển lời cầu của chúng con đến với Chúa, xin Chúa thương ban ơn phù giúp chúng con nếu điều chúng con xin là đẹp lòng Ngài, cũng như xin cho mỗi người chúng con đều được thánh hóa, nên công chính, vâng phục, khiêm nhường, trung thành và biết hy sinh như Thánh cả Giuse, vị bảo trợ quyền năng của Hội Thánh.

Khi cầu nguyện, chúng ta nên nói gì với Chúa nhỉ 🤔Thiết nghĩ, khi đến với Chúa, trước hết chúng ta nên cảm tạ Chúa đầu t...
28/04/2026

Khi cầu nguyện, chúng ta nên nói gì với Chúa nhỉ 🤔

Thiết nghĩ, khi đến với Chúa, trước hết chúng ta nên cảm tạ Chúa đầu tiên. Dẫu cho bạn đang trong một tình trạng khó khăn, đau khổ, nhưng bạn vẫn nên cảm tạ Chúa vì ít ra cho đến giờ phút này, việc bạn vẫn còn hiện diện và cầu nguyện được đã là một kỳ tích. Tiếp theo ta cũng nên xin lỗi Chúa vì những lỗi tội ta đã phạm, việc nhận ra lỗi lầm, ăn năn và xin Chúa tha thứ cũng giúp ta được giao hòa với Chúa và là tiền đề để cho những lời khẩn cầu của ta đến với Ngài được dễ dàng hơn, rồi sau đó kế đến ta mới bước vào cầu nguyện. Và nếu bạn đang tìm kiếm những mẫu câu cho việc cầu nguyện thì câu trả lời dành cho vấn đề này là: hổng có mẫu câu nào hết trơn á. Quên hết những bài văn mẫu soạn sẵn những lời cầu nguyện mà bạn thường thấy trên mạng đi, vì lời cầu nguyện phải xuất phát từ tâm chứ không phải là những lời hoa mĩ được trau chuốt thật kỹ thì mới đánh động được đến Chúa như người ta vẫn thường nghĩ. Hãy đến với Chúa với một trái tim chân thành, đơn sơ nhất, như một bé thơ tâm sự với cha của mình. Vì sao lại là "bé thơ", vì trẻ con thì có gì nói đó, vậy nên bạn cũng đừng ngần ngại mà thể hiện hết tất cả những mặt yếu đuối, bất lực, bế tắc của mình, bạn cứ dâng hết lên cho Ngài, phó thác hết cho Ngài, và xin Ngài làm cho mình. "Cứ xin thì sẽ được", đúng vậy, bạn cứ kiên trì cầu xin với một lòng trọn niềm cậy trông, yêu mến, tín thác thì chắc chắn Chúa sẽ ra tay, nếu điều bạn xin là đẹp lòng Chúa thì Ngài sẽ ban cho bạn và đôi khi điều Ngài ban còn tuyệt vời hơn cả sự mong đợi của bạn nữa. Và khi đã được ơn rồi thì đừng quên quay lại cảm tạ Chúa và tiếp tục cầu nguyện nhé, chứ đừng để trở thành "con chỉ đến bên ta lúc buồn, vậy những ngày vui con về nơi đâu" là cũng hỏng được à nhe. Bạn nên biến việc cầu nguyện thành một thói quen, thành những cuộc trò chuyện thân mật với Chúa, bạn cứ xem Chúa thật sự như ba của mình vậy. Nếu ngày hôm đó có chuyện gì thì bạn hãy kể Chúa nghe, còn nếu không có chuyện gì đặc biệt thì bạn cứ "Gút mó ninh", "Gút áp tơ nun", "Gút nai" Chúa cũng được, giống như mình chào hỏi ba mình vậy á, và bạn cũng có thể nũng nịu mà nói với Chúa rằng: "Chúa ơi, Chúa tiếp tục thương con nha, Chúa tiếp tục ở lại bên cạnh con nha Chúa". Bạn hãy thử những cách này của mình xem sao nha, mình nghĩ chắc là Chúa sẽ thấy bạn dễ thương lắm đó và sẽ muốn ban ơn cho bạn sớm thôi nè 😁

28/4, Thầy Gioan Baotixita tử đạoThầy Gioan Baotixita Đinh Văn Thanh sinh năm 1796 ở làng Nội Khê, xứ Hảo Nho, địa phận ...
28/04/2026

28/4, Thầy Gioan Baotixita tử đạo

Thầy Gioan Baotixita Đinh Văn Thanh sinh năm 1796 ở làng Nội Khê, xứ Hảo Nho, địa phận Phát Diệm, tỉnh Ninh Bình, trong một gia đình ngoại giáo. Năm 18 tuổi, được ơn Chúa soi sáng, thầy tìm hiểu đạo và chịu phép Rửa tội ở làng Phúc Nhạc. Từ ngày ấy, thầy tỏ ra sốt sắng, đạo đức, khiêm nhường nên được nhận vào nhà Đức Chúa Trời.
Thầy giúp Cha Phao-lô Khoan chính xứ Phúc Nhạc. Cha cử thầy trông coi trại Đông Biên. Thầy ốm yếu nhưng chịu khó làm các việc bậc mình. Cha Khoan hết lòng khen ngợi thầy, không những thầy siêng năng lại có tài riêng biết thu xếp công việc. Các người làm việc trong trại rất phục thầy, nhưng thầy ở khiêm nhường, không bao giờ tự tiện làm việc gì trước khi chưa xin ý kiến Cha xứ, và Cha dạy thế nào thầy vâng như vậy.

Xác như đá, như gỗ
Đang thời cấm đạo ngặt, Bề trên giao trại Đông Biên cho ông phó Tổng Dụ coi sóc và nhận là của mình trước mặt quan. Ngày 24-8-1838, Cha Khoan đi kẻ liệt về qua trại Đông Biên ngủ đêm ở nhà ông Dụ và bị bắt ở đấy cùng với hai thầy Thanh và Hiếu. Hôm sau cả ba người phải giải lên tỉnh Ninh Bình. Ra trước công đường, khi các quan tra hỏi, bao giờ Cha Khoan cũng nói trước và Cha nói thế nào thầy cũng đáp lại như vậy. Hôm đầu quan hỏi thầy thì thầy thưa rằng: “Tôi là đầy tớ đạo trưởng, ý tôi cũng giống ý người, quan thương, tôi được sống, nếu quan bắt tôi bỏ đạo, tôi xin bằng lòng chết, tôi không quá khóa”.
Quan truyền đánh đòn thầy, thầy không kêu tiếng nào, quan bảo lính đóng gông giam vào ngục.
Sau các quan tra khảo thầy riêng vì sợ có Cha Khoan ở đấy như một sức mạnh cổ võ thầy. Thầy phải chịu nhiều cơn gian nan khốn khó, khi quan bắt bẻ điều này, đe nẹt điều kia trong đạo, lúc ngọt lúc sẵng, có khi quan dọa sẽ mổ bụng, đánh dập đầu. Nhiều khi quan truyền lôi thầy qua Thánh giá nhưng thầy cưỡng lại hết sức, dù lính khiêng thầy, thầy cũng co chân lên.
Quan thấy môn đệ của Chúa vững vàng không nao núng thì lập mưu khác. Quan ra lệnh cho Cha Duyệt là người đã quá khóa đến khuyên thầy rằng: “Xưa Thánh Phê-rô đã chối Chúa ba lần sau vẫn làm đầu Hội Thánh, hãy bắt chước gương ấy rồi sẽ ăn năn trở lại”. Nghe những lời ấy, thầy tỏ vẻ buồn sầu đau đớn nhưng không đáp lại lời nào. Không còn biết dùng cách nào nữa, quan truyền lính đánh thầy thật đau, lúc hai mươi roi, lúc ba mươi roi, nhưng dù đánh bao nhiêu, đánh mấy lần thầy vẫn im lặng chịu không chút nao núng, nên quan ngạc nhiên nói rằng: “Xác tên này trơ như đá, đánh nó như đánh vào gỗ”.
Thực ra, cũng là con người, thầy rất đau đớn, nhưng lòng mến Chúa giúp thầy lướt thắng mọi sự, vui lòng chịu khổ chịu nhục.

Câu trả lời là một bản kinh
Các quan giam riêng thầy Thanh đủ mười một ngày, tra khảo nhiều lần đều mất công vô ích nên lại giam thầy cùng một ngục với Cha Khoan. Hôm ấy là ngày vui mừng vì linh mục đưa Mình Thánh vào ngục cho ba người chịu và vì sau những ngày xa cách được gặp lại nhau mà biết chắc không ai quá khóa.
Các quan kết án Cha Khoan phải trảm quyết, còn hai thầy Thanh và Hiếu phải xử giảo giam hậu. Thầy Thanh hơi buồn vì không được xử cùng với Cha Khoan nhưng còn hy vọng may ra vua sẽ đổi án. Đã lâu không thấy án trong kinh, thầy lợi dụng thời gian ấy ăn chay, đọc kinh, yên ủi, khuyên bảo các bạn tù. Thầy luôn vui vẻ với mọi người, thỉnh thoảng một bà có đạo kiệu Mình Thánh vào cho Cha Khoan và hai thầy, được lương thực thần linh bổ dưỡng, các nhân chứng của Chúa thêm sức mạnh chiến đấu đến cùng.
Đã hơn một năm trôi qua trong ngục, ngày 22-11-1839 vua Minh Mệnh truyền cho các quan phải làm sao để ba tù nhân này xuất giáo.
Quan Án cho đòi hai thầy ra đe doạ, dụ dỗ quá khóa, thầy Thanh vẫn cương quyết, khi nào quan giục giã quá thì thầy lớn tiếng đọc kinh Đạo Đức Chúa Trời có 10 điều răn như lời tuyên xưng Đức Tin thà chết chẳng lỗi phép đạo.
Quan tức giận quát rằng: “Chúng bay thà chết mà không bỏ đạo thì mặc chúng bay”, rồi quan kết án hai thầy phải trảm quyết. Vua Minh Mệnh châu phê ngay, nhưng án ra đến tỉnh vào cuối năm, gần tết, các quan hoãn lại mấy ngày; cũng kỳ này có quan Tuần mới đến thay thế, quan này còn muốn dụ dỗ thêm nên các thầy còn phải giam mấy tháng nữa. Gần đến ngày xử quan đòi Cha Khoan và hai thầy ra bảo rằng: “Các ngươi hãy nghĩ lại, nếu nghe ta các người được sống, nếu không sẽ phải chết ngay”. Cha Khoan thưa thay tất cả rằng: “Chúng tôi đã suy nghĩ lâu ngày lâu tháng rồi, không bao giờ đổi ý, chúng tôi chỉ xin quan xử chúng tôi nhanh chóng, nếu chúng tôi dám phạm tội quái gở ấy, chúng tôi đã làm rồi”.
Vậy các quan nhất định xử Cha Khoan, thầy Thanh và thầy Hiếu ngày 28 – 4 – 1840. Đêm vọng ngày phúc lộ ấy, thầy Thanh đọc kinh cả đêm. Trên đường đi đến nơi xử ba cha con hát bài ‘ Kinh Tạ Ơn’ có ý cám ơn Chúa vì đã ban phúc trọng mình trông đợi bấy lâu.
Đến nơi xử, thầy Thanh còn hát mấy câu, rồi đọc kinh một lúc, sau thầy ngửa mặt lên trời, lính chém một nhát, đầu thầy rơi xuống và linh hồn thầy bay về trời hợp với ca đoàn các thiên thần và các thánh chúc tụng tạ ơn Chúa muôn đời. Cả Cha Khoan và thầy Hiếu cũng bị chém hôm ấy.
Về sau các bổn đạo đem xác thầy về làng Yên Mối, được ít lâu đưa về Phúc Nhạc.
Ngày 27-5-1900 Đức Thánh Cha Lê-ô XIII đã phong chân phúc cho thầy và Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II phong hiển thánh cho thầy ngày 19-6-1988.

Đức Hồng Y Giuse Maria Trịnh Văn Căn

Hôm nay là thứ 6 tuần Thánh, vậy nên xin được mời gọi mọi người cùng nhau hồi tưởng lại về cuộc thương khó, sự hy sinh v...
03/04/2026

Hôm nay là thứ 6 tuần Thánh, vậy nên xin được mời gọi mọi người cùng nhau hồi tưởng lại về cuộc thương khó, sự hy sinh và cái chết của Chúa Giêsu trên Thập Giá để cứu chuộc nhân loại, đồng thời cùng nhau chúng ta suy niệm sâu hơn đến vấn đề thường được quan tâm: Tại sao nhân loại tội lỗi như vậy nhưng Chúa lại chịu chết cho họ, và tại sao nói Chúa là đấng giàu lòng thương xót nhưng Chúa Cha lại để cho chính con mình chịu khổ nạn và chết đau đớn như vậy.

Đầu tiên phải kể đến nguồn cơn trực tiếp dẫn đến việc Đức Giêsu bị bắt và bị đóng đinh cho đến chết là do Giuđa Iscariô, một trong các môn đệ của Đức Giêsu, đã phản bội lại Người và giao nộp Người cho các thượng tế và kỳ lão. “Tôi hôn ai thì chính là người đó. Các anh bắt lấy !”(*). Không phải ai xa lạ, mà là chính người thân cận của mình đã bán mình, mà còn bán với giá chỉ ba mươi đồng bạc, thì còn nỗi niềm nào chua xót hơn. Thông thường, người ta có quý nhau thì mới hôn nhau, nhưng đây, ông Giuđa lại lấy nụ hôn, một biểu tượng tốt đẹp biết bao để ra dấu cho người ta đến bắt thầy của mình. Tội lỗi thay, khốn đốn thay. Nhưng quan trọng là, Đức Giêsu biết hết mọi sự, Ngài đã sớm biết được việc ông Giuđa sẽ bán mình, và không chỉ như thế, Ngài còn biết được mình sẽ phải chịu khổ nạn như thế nào. Nếu đặt hoàn cảnh mình là Đức Giêsu lúc đó, biết được rằng mình sắp phải chết và sẽ chết như thế nào, thử hỏi có ai trong chúng ta còn đủ minh mẫn, chịu đựng được cú sốc đó và chấp nhận để đi chết? Vậy mà Đức Giêsu, một Đức Chúa quyền năng, cao trọng hơn hết thảy lại đồng ý xuống trần gian, mặc lấy số kiếp của một con người bé nhỏ, con người ấy không hề nhiễm một tội trạng nào, ma quỷ cám dỗ bao nhiêu cũng không hề lung lay, trái lại còn sống hết mình vì muôn dân, vậy mà Người lại phải chết vì tội lỗi của nhân loại? Nếu có ai trong chúng ta vô tội trong một vấn đề nào đó, người kia thì lại mắc tội, chúng ta có sẵn sàng chết thay cho người đó không? Vậy mà lại có một Thiên Chúa đã chấp nhận chết để đền thay cho tội lỗi của toàn nhân loại, mà lại còn là một cái chết đau đớn tột cùng.

Mở đầu cho hành trình thương khó của Đức Giêsu Kitô là “Bấy giờ các môn đệ bỏ Người mà chạy trốn hết”(*). Những tưởng chỉ có một mình ông Giuđa, nhưng hỡi ôi, hết thảy những người đã từng đồng hành, đồng cam cộng khổ cùng Người, những người tưởng như thân tín nhất, đều bỏ mặc Người. Không chỉ các môn đệ ruồng bỏ Người, nhưng còn là đám đông dân chúng: “Ðóng đinh nó vào thập giá!”(*); “Máu hắn cứ đổ xuống đầu chúng tôi và con cháu chúng tôi”(*). Ôi, thật chua xót biết là bao nhiêu khi những con người đã và đang được Đức Giêsu cứu, giờ đây họ lại đồng lòng la hét đòi giết Chúa với những câu từ không thể nào ghê rợn hơn, và chính vì sự quyết liệt của những con người ấy đã dẫn đến việc Chúa bị đánh đập dã man và liên tiếp trong hàng giờ đồng hồ sau đó. Mỗi lần nghĩ đến cảnh đó, lồng ngực tôi thật sự cảm thấy như bị thắt lại. Thiết nghĩ nếu như là tôi, chắc tôi đã không trụ nổi ngay từ những đòn roi đầu tiên. Ví như cái bàn cái ghế vô tri, quật kiểu đó nó còn bị b**g bét, huống chi là da thịt con người...

Không dừng lại ở đó, chúng còn hành hạ, giày vò thể xác và tinh thần Người bằng cách đội mão g*i cho Người, chế nhạo Người, rồi để chính Người tự vác lấy thập giá mình mà đi. Đỉnh điểm là chúng đóng đinh Người vào cây thập giá, và quan trọng nhất là lúc đó, Người còn sống! Thật kinh khủng, ác độc, và man rợ. Nhiều lúc tưởng tượng đến cảnh đó, thử đặt mình vào Chúa, cảm nhận nỗi đau đớn tận cùng về tâm hồn và thể xác mà Chúa phải chịu, tôi đã bật khóc như một đứa trẻ. Tôi tự hỏi rằng sao Chúa lại phải chịu đựng những thứ quá là kinh thiên động địa, tại sao Chúa lại chết để đền tội thay cho những con người mất hết nhân tính như vậy. Nhưng rồi tôi chợt nhớ đến một câu nói của một vị Linh mục mà tôi đã từng nghe qua trong bài giảng Thánh lễ: “Lòng thương xót của Chúa lớn hơn muôn vàn tội lỗi của nhân loại”. Lúc đó, tôi như bừng tỉnh và nhận ra rằng, ồ, mình đúng thật là... “con người”. Thường thì con người sẽ chỉ tốt đối với ai tốt với mình, còn đối với những ai xấu xa, tội lỗi, và đặc biệt là những ai làm lỗi với mình, thì con người sẽ rất là ghét, và thậm chí là mang lòng hận thù. Còn “Con Người” thì khác. “Người khiến mặt trời mọc lên cho người lành kẻ dữ, và cho mưa xuống trên người liêm khiết và kẻ bất lương” (Mt 5,45). Thiên Chúa của chúng ta, luôn có một lòng thương xót và lòng vị tha vô bờ bến dành cho chúng ta. Cho dù ta có phạm tội nặng đến đâu, thì Chúa vẫn luôn kiên nhẫn, tha thứ hết lần này đến lần khác. Đối với con người, có thể nhiều lúc, họ nghĩ rằng họ không thể nào tha thứ được cho một ai đó, nhưng đối với Chúa, không có gì là không thể. Chúa đã rất sẵn lòng tha thứ, và Ngài đã chịu chết để mỗi một con người chúng ta được sống. Đường lối của Thiên Chúa, con người không thể nào dò thấu và hiểu hết được. Vì vậy, có những chuyện ta không nên áp đặt suy nghĩ của con người vào quyết định của Chúa, chẳng hạn như việc không chấp nhận và không tin rằng thật sự có một Thiên Chúa đã chết cho những con người tội lỗi. Thay vào đó, ta nên cảm thấy thật hạnh phúc khi có một người cha đầy lòng thương xót, đầy lòng nhân ái, luôn bao dung và độ lượng, một người cha luôn dõi theo từng bước chân ta đi và hằng đồng hành cùng ta qua bao thăng trầm trong cuộc sống này.

Còn về câu hỏi “Tại sao Chúa Giêsu là con của Đức Chúa Trời, mà Đức Chúa Trời lại cho chính con của mình chết? Vậy thì sao lại nói Thiên Chúa là đấng giàu lòng thương xót được?”, mãi đến sau này, khi tìm hiểu về Chúa nhiều hơn, đọc lời Chúa nhiều hơn, với ánh sáng mà Chúa Thánh Thần soi rọi thì tôi mới ngộ ra. Kể từ khi ông Adam và bà Eve phạm tội, thì con cháu của ông bà là loài người sau này cũng sống vô cùng tội lỗi, nên Chúa Cha phải cho Chúa Con xuống chịu nạn chịu chết để chuộc tội cho thiên hạ. Cái này thì ai cũng biết, nhưng cái mà mọi người thắc mắc là TẠI SAO PHẢI CHẾT MỚI ĐƯỢC, Chúa không chết cũng được mà, chứ cha mà cho con mình chết thì có phải quá là tàn nhẫn không, vậy thì còn gì gọi là thương với xót. Thật ra thì câu trả lời cũng đơn giản thôi, đó là vì nhân loại mình tội lỗi nhưng lại quá chai lì, giả sử Chúa Cha cho con mình xuống trần gian và sống giàu sang, sung sướng như một ông hoàng, không phải chịu khổ, chịu chết, thì liệu có để lại một dấu ấn nào cho nhân loại, liệu có ai nhớ đến Người, liệu có ai tin rằng Đức Giêsu là Chúa, và liệu có ai biết được lòng thương xót của Chúa lớn dường nào không. Con người là loài tội lỗi yếu đuối, không thể nào có một ai sẵn sàng chịu chết cho một người tội lỗi khác được, can chi là cho toàn thể nhân loại, nên một khi việc đó xảy ra, thì chỉ có thể là Thiên Chúa - Đấng tạo dựng nên con người, vì quá yêu thương những người con của mình nên mới sẵn lòng hy sinh vì con mình. Chính vì vậy mà mới có biến cố chịu nạn chịu chết của Đức Giêsu để mọi người nhận biết được rõ ràng đâu là Thiên Chúa, đâu là con người. Và thêm một lời lý giải nữa cho việc vì sao Chúa Cha lại để cho con của mình chịu chết, tôi xin được phép trích lại một đoạn Kinh Thánh như một lời kết nhằm giải đáp sâu hơn cho câu hỏi được đề ra như sau: “Anh em thân mến, nếu Đức Kitô được rao giảng rằng Người đã từ cõi chết sống lại, thì làm sao có người trong anh em cho rằng không có sự sống lại từ cõi chết? Vì nếu kẻ chết không sống lại, Ðức Kitô cũng đã không sống lại. Nếu Ðức Kitô đã không sống lại, thì lòng tin của anh em cũng là hão huyền, và hiện anh em vẫn còn ở trong tội lỗi của anh em. Như thế ai đã chết trong Ðức Kitô, cũng bị tiêu huỷ cả. Nếu chúng ta chỉ hy vọng vào Ðức Kitô trong cuộc đời này mà thôi, thì chúng ta là những người vô phúc nhất trong thiên hạ. Nhưng không, Ðức Kitô đã từ cõi chết sống lại, là hoa quả đầu mùa của những người đã yên giấc.” (1 Cr 15, 12. 16-20).

Chú thích: (*): trích Cuộc thương khó của Chúa Giê-su Ki-tô theo Thánh Mát-thêu

Chúng ta đang sống trong một thời đại mà người ta thường được dạy rằng phải tự lập, phải trở nên mạnh mẽ, phải biết tự g...
26/02/2026

Chúng ta đang sống trong một thời đại mà người ta thường được dạy rằng phải tự lập, phải trở nên mạnh mẽ, phải biết tự giải quyết mọi sự. Nhiều người nghĩ rằng xin sự giúp đỡ của người khác là làm phiền họ, là dấu hiệu của sự yếu đuối, và dần dần chúng ta cũng quên mất đi cách để xin. Nhưng, trong thực tế thì không ai trong chúng ta sống mà không cần đến người khác.

Có những lúc chúng ta cảm thấy rất cô đơn, dù chung quanh ta có rất nhiều người. Có những lúc trong lòng đầy lo lắng, nhưng rồi cũng không biết chia sẻ những nỗi lo ấy với ai. Có những lúc chúng ta chỉ biết im lặng và chịu đựng. Và chính trong những hoàn cảnh như thế, Chúa Giêsu đã nói với chúng ta ngày hôm nay: "Anh em hãy xin thì sẽ được, hãy tìm thì sẽ thấy, hãy gõ cửa thì sẽ mở cho". Ngài không nói là "có lẽ" hoặc "có thể", nhưng Ngài khẳng định không có chỗ cho sự nghi ngờ khi nài xin Thiên Chúa. Chúa Giêsu đã dùng một hình ảnh rất gần gũi: hình ảnh người cha và người con. Không có người cha nào khi con mình xin bánh mà lại cho nó hòn đá. Dù nghèo, cha mẹ cũng cố gắng lo cho con những điều tốt nhất có thể, và Thiên Chúa cũng vậy. Ngài không bao giờ muốn điều xấu cho ta. Tuy nhiên, chúng ta cũng phải thú nhận rằng, có rất nhiều lần chúng ta đã xin mà vẫn chưa thấy, nhiều lần chúng ta cầu nguyện mà vấn nạn thì vẫn còn đó, và có thể, ta đã từng trải qua những sự thất vọng khôn xiết. Hoàng hậu Ét-te trong bài đọc thứ nhất ngày hôm nay đã quỳ gối, hai tay chạm xuống nền đất thô ráp kêu xin ơn cứu thoát cho một số phận tưởng chừng như đã được an bài. Cả chúng ta nữa, đôi khi cũng như Ét-te, chúng ta phủ phục trước thực tại khắc nghiệt khi đối diện với một vấn nạn nào đó: một căn bệnh, nỗi lo lắng cho con cái, hay một vết thương trong một mối tương giao khiến lòng ta nên nặng trĩu. Nhưng, đôi khi vấn đề không phải là Chúa KHÔNG TRẢ LỜI ta, mà là ta đã BỎ CUỘC quá sớm. Chúng ta cầu nguyện chỉ mới vài ngày hoặc vài tuần rồi nản lòng. Chúng ta gõ cửa nhưng người chưa ra mở thì chúng ta đã vội quay đi.

Thật ra, cầu nguyện không phải chỉ là để xin một điều gì đó, nhưng là ở lại trong một mối tương quan với Chúa. Mùa chay này là cơ hội để chúng ta xét lại cách thức ta tương quan với Thiên Chúa và với tha nhân như thế nào. Lắm lúc, chúng ta mau đòi hỏi nhưng lại chậm trao ban. Chúng ta muốn được lắng nghe, nhưng lại thực sự khó để mở đôi tai lắng nghe người khác. Còn Thiên Chúa thì luôn lắng nghe ta, dù cho có như thế nào đi chăng nữa. Vì vậy, đừng ngần ngại gõ cửa, có thể cánh cửa sẽ mở ra theo cách thức mà ta không ngờ đến. Chúa không hứa sẽ giải quyết mọi sự ngay lập tức theo ý ta, nhưng Chúa bảo đảm một điều rằng chúng ta có một người cha trên trời hằng đang lắng nghe ta, và rằng chúng ta không cô đơn trong sự mong manh yếu đuối của bản thân mình. Đến cuối cùng, ta sẽ nhận ra rằng điều mà ta cần nhất không phải là một giải pháp, nhưng là một người cha đầy yêu thương. Có Chúa là có tất cả. Vậy nên, mùa chay này, lời cầu nguyện đẹp nhất không phải là lạy Chúa, xin cho con điều này điều kia, nhưng là: lạy Cha, xin cho con đừng bao giờ rời xa Cha. Amen!

Nguồn: TGPSG

Chúc mừng sinh nhật Cha Giêsu yêu dấu của con!Cha vẫn khỏe chứ? Dạo này Cha có mệt mỏi lắm không Cha ơi?Hai ngày Giáng s...
25/12/2025

Chúc mừng sinh nhật Cha Giêsu yêu dấu của con!

Cha vẫn khỏe chứ? Dạo này Cha có mệt mỏi lắm không Cha ơi?

Hai ngày Giáng sinh này con không đi chơi, con dành phần lớn thời gian cho việc phụng vụ Cha và phục vụ mọi người. Khoảng thời gian vừa qua đối với con không hề dễ dàng, đó là một thời kỳ đầy biến động với những khó khăn, gian nan, thử thách. Đã có lúc con thất vọng, chán nản, muốn buông bỏ mọi sự. Nhưng may mắn thay, hạnh phúc thay, con có Cha. Con luôn biết Cha hằng hiện hữu bên cạnh con. Nếu không có Cha hằng ủi an, đỡ nâng, con nghĩ là con đã không thể vượt qua được. Cảm ơn Cha vô cùng vì đến giờ con vẫn còn được sống, còn được toàn vẹn về thể xác. Cảm ơn Cha vô tận vì đã luôn là một người cha rất đỗi nhân từ của con: Khi con vấp ngã, sai phạm, Cha không sửa phạt ngay nhưng luôn kiên nhẫn đợi chờ ngày con quay trở về. Khi con thuyền đời con lênh đênh giữa ba đào, bế tắc không biết rẽ về đâu, Cha như nguồn ánh sáng dịu êm, dẫn dắt con từng bước để con biết được hướng đi nào là đúng. Cha đã cứu con từ vực sâu thăm thẳm, thánh hóa con cho con được trở nên công chính hơn, để rồi từ đó con được Cha thưởng công bồi hậu. Tất cả mọi sự của con đều là do Cha ban tặng: hình hài này, hơi thở này, sức khỏe này, trí óc này, nơi ở này, lương thực này, tiền tài này,... Cha luôn dành phần tốt nhất cho con, Cha luôn yêu con một tình yêu như thế đó.

Sinh nhật Cha, con không tặng Cha một món quà vật chất nào được, thôi thì con xin tiến dâng lên Cha một tinh thần luôn nỗ lực sống tốt theo lời Cha dạy và một tấm lòng luôn khắc khoải, mong sao cho ngày càng có nhiều người được nhận biết Cha là Đấng tạo hóa đầy quyền năng và giàu lòng thương xót, để họ được quay về đúng nguồn cội của mình và được ơn thay đổi, hoàn thiện bản thân ngày càng trở nên tốt đẹp hơn, để cho chính bản thân họ được hưởng hạnh phúc đời này và đời sau cùng Cha, cũng như để cho số lượng tội lỗi trong nhân loại này được giảm bớt, từ đó có thể an ủi trái tim đang rỉ máu từng ngày của Cha phần nào. AMEN!

Có thể bạn chưa biết: Ông già Noel là một nhân vật lịch sử có thật!Huyền thoại kể lại rằng, ở Patara, thuộc tỉnh Lycia, ...
25/12/2025

Có thể bạn chưa biết: Ông già Noel là một nhân vật lịch sử có thật!

Huyền thoại kể lại rằng, ở Patara, thuộc tỉnh Lycia, hai vợ chồng giàu có Anna và Euphêmiô vì không con đã cố gắng tìm an ủi trong công việc từ thiện. Thiên Chúa chúc lành cho lòng bác ái của họ. Cuối cùng họ có được một mụn con và đặt tên cho con là Nicôla, có nghĩa là “sự chiến thắng của dân”. Khi mới tắm rửa lần đầu, con trẻ đặc biệt này đã chắp tay, đứng trong thau nước hai giờ liền, mắt hướng về trời. Thứ tư và thứ sáu, em không chịu bú cho tới chiều để ăn chay. Chị vú nuôi sợ em chết, nhưng trái lại, em đã trở nên một con trẻ kiêu hùng. Nicôla có nhiều đức tính tốt như một trẻ em gương mẫu. Cha mẹ mất sớm, Nicôla thừa hưởng một gia tài kếch xù. Nhưng Ngài lại coi tất cả tài sản này như của Chúa cho vay. Ngài phân phát cho những người bất hạnh và thực hiện đức bác ái như một sự tế nhị dễ thương. Có lẽ câu truyện nổi tiếng nhất về Thánh Nicôla chính là lòng bác ái của Ngài đối với một gia đình nghèo khổ mà ông bố không có của cải để cho ba cô con gái làm của hồi môn. Vì không muốn trông thấy họ phải lâm vào cảnh đĩ điếm, Nicôla đã bí mật ném ba gói vàng qua cửa sổ nhà ông này vào ba trường hợp khác nhau để giúp các cô con gái ấy đi lấy chồng. Bất kể sự ngăn cấm của thánh nhân, ông bố đã kể lại khắp nơi cử chỉ bác ái này của Ngài. Qua các thế kỷ, huyền thoại này trở thành thói quen tặng quà nhân ngày lễ kính thánh nhân. Trong thế giới nói tiếng Anh, Thánh Nicôla trở thành Santa Claus mà người Việt thường gọi là ông già Noel.

Thuở sinh thời, Nicôla đã luôn ao ước hiến đời mình cho Thiên Chúa. Khi Giám mục Myra qua đời, các Giám mục miền Lycia cân nhắc để chọn vị mục tử mới. Một sứ giả từ trời xuống báo tin cho vị niên trưởng biết, người được chọn là linh mục Nicôla ngày mai sẽ tới nhà thờ trước hết. Trời vừa sáng, Nicôla tới nhà thờ theo lòng sốt sắng và nghe loan báo mình làm giám mục. Dịp lễ đầu tay, Nicôla đã làm cho em bé bị phỏng sống lại. Từ kỷ niệm này, người ta hay kêu cầu thánh nhân những khi gặp nguy hiểm vì lửa. Từ ngày nhận lãnh trách nhiệm chăn dắt đoàn chiên Chúa, Đức Giám mục Nicôla đã sống một cuộc sống khắc khổ hơn nữa. Mỗi ngày Ngài chỉ ăn một bữa và kiêng thịt hoàn toàn, bữa nào Ngài cũng chăm chú nghe đọc một vài trang sách Kinh Thánh rồi mới dùng bữa. Ban đêm Ngài thức rất khuya để cầu nguyện, sau đó Ngài dậy rất sớm và đánh thức các thầy trợ sĩ để hát thánh vịnh chúc tụng Chúa. Ngài sống rất nghèo khó, người ta lại kể rằng dụng cụ Ngài dùng đều là đồ đi mượn, bởi vì có gì quý báu Ngài đều bán đi để giúp người nghèo. Nhiều người xúc động trước lòng nhân lành, và tình yêu vô cùng của Chúa mà ăn năn trở lại cùng Người. Vì công nghiệp đầy tràn của Ngài, Chúa đã cho Ngài làm nhiều phép lạ để cứu giúp những người hoạn nạn.

Một câu chuyện về phép lạ phổ biến chính là chuyện kể về ba em nhỏ trên đường sang Athen. Họ dừng chân nghỉ qua đêm tại một quán trọ và bị người chủ quán cướp hết hành trang, sát hại và giấu xác trong một thùng gỗ. Khi Đức Giám mục Nicôla, lúc đó cũng đang trên đường đến Athen dừng chân tại quán trọ ấy, Ngài được báo mộng về tội ác của kẻ chủ quán. Nhờ lời cầu nguyện, Ngài đã xin Chúa cho ba em được sống lại và cảm hóa được người chủ quán trọ độc ác ấy hoán cải.

Có lần Lycia mất mùa, dân chúng đói khổ, lòng thương xót đã khiến Giám mục Nicôla lo tìm mọi phương thế cứu trợ nạn đói. Ngày kia nghe tin có một đoàn tàu chở đầy thóc gạo từ Alexandria đang đi qua cửa biển gần đấy, Ngài vội vã đến xin mỗi tàu nhường cho dân thành Lycia 100 tạ gạo và bảo đảm với họ rằng: Thiên Chúa sẽ bù cho chỗ hụt đấy và khi về tới nhà mỗi tàu sẽ đầy lại như cũ. Gương mặt thánh thiện và lời nói đầy mãnh lực của Ngài đã làm cho họ phải mến phục và bằng lòng nhường cho số gạo Ngài xin. Khi về tới nhà họ đem cân lại thì quả nhiên số gạo của mỗi tàu vẫn y nguyên như cũ không hao hụt chút nào.

Không chỉ giới hạn trong địa phận của Ngài, trái lại lòng bác ái ấy còn phổ quát và bao gồm hết mọi người, bất kỳ ai lâm hoạn nạn kêu cầu đến Ngài đều được Chúa thương giúp vì lời Ngài cầu khẩn. Thế nên, khi còn sống nhiều người đã coi Ngài như một vị thánh bảo trợ, đặc biệt là những người làm nghề hàng hải. Lần kia một số các thủy thủ đang lênh đênh trên một chiếc tàu giữa biển khơi thì bỗng một cơn giông nổi lên, chiếc tàu lảo đảo sắp chìm. Các thủy thủ sợ hãi, nhưng may thay trong cơn túng cực họ đã nhớ đến Đức Giám mục Nicôla và cùng nhau quỳ xuống sốt sắng xin Chúa vì công nghiệp Đức Giám mục Nicôla cứu họ thoát khỏi cơn nguy hiểm. Lập tức Ngài xuất hiện trên tàu và nói với họ: “Ta đây, ta là đầy tớ Chúa sai đến để cứu các con, hãy trông cậy vào Chúa”. Ngài đến sau tàu cầm lái và con tàu lại bắt đầu tiến bước vững chãi. Vài phút sau biển cũng phẳng lặng.

Không những là đấng phù trợ các người vượt biển, Thánh Nicôla còn là đấng quan thầy của các vị thẩm phán, luật sư và của cả những kẻ bị cáo gian. Sách “Niên lịch tử đạo Rôma” đã kể lại một phép lạ Ngài cứu ba người vô tội sắp phải tử hình dưới đời hoàng đế Constantinô: Đêm cuối cùng trước khi đem đi xử, cả ba buồn sầu vì sắp phải đón nhận một cái chết oan uổng. Trong lúc tuyệt vọng không còn trông cậy gì ở phương thế trần gian, cả ba lặng lẽ quỳ xuống cầu nguyện: “Lạy Thiên Chúa là Chúa của Đức Giám mục thánh thiện Nicôla, xưa Chúa đã cứu ba trẻ nhỏ Do thái khỏi chết oan trong lò lửa, Chúa thấu biết chúng con đây cũng hoàn toàn vô tội như ba trẻ xưa, giờ đây chúng con không còn biết trông cậy vào ai ngoài Chúa. Vậy xin Chúa hãy bênh đỡ chúng con". Trong khi đó hoàng đế Constantino đang ngủ say. Bỗng một ông già dáng điệu oai phong hiện ra với vua trong giấc mộng và nói:
- Hãy dậy và lập tức ra lệnh tha bổng ngay cho ba người Ngài vừa kết án và sắp bị đem đi xử tử cách bất công.
- Ngài là ai mà lại nói những lời lẽ ấy?
- Ta là Nicôla Giám mục thành My-ra.
Constantino liền gọi viên quan tòa Abiavios. Trong khi tên hầu cận còn đang đi đến với Abiavios thì chính ông này cũng thấy ông già ấy hiện ra truyền lệnh như vậy.
Constantino cho gọi ba người tù lên:
- Các người đang phù phép gì làm mất cả giấc ngủ của ta?
Nghe nói, cả ba cùng bỡ ngỡ không hiểu gì hết, nhưng khi vừa tả lại giấc mộng thì Nepotien- một trong ba người quỳ sụp xuống dâng lời tạ ơn Chúa với giọng run run cảm động: “Lạy Chúa toàn năng, Chúa đã đoái thương nghe tiếng chúng con cầu khẩn, sai Đức Giám mục Nicôla đến làm chứng cho sự oan uổng của chúng con”, và Nêpôxianô tả lại cho vua nghe cảnh ba người vừa thiết tha cầu nguyện trong gian nhà tù. Hoàng đế Constantinô cảm động và cho phép ba người tù trình bày nỗi oan uổng. Cử chỉ và lời nói chân thành của cả ba khiến nhà vua xúc động, đồng thời nhận thức rõ được sự thật về họ, và cả ba đều được nhà vua tha bổng.

Sau khi hoàn tất bao nhiêu việc lành thiêng liêng lẫn vật chất, thánh Nicôla muốn vào cõi đời đời. Bảo vệ giáo thuyết công giáo tinh tuyền, Ngài đã chống lại lạc giáo, tham dự Công Đồng Nicée. Khi thấy sắp kết thúc cuộc đời, Ngài muốn lui về tu viện, nơi mà buổi thiếu thời Ngài đã tự hiến cho Thiên Chúa, và chính tại nơi đây, Ngài phó dâng linh hồn trong tay Chúa. Năm 1087, Myra rơi vào tay người Thổ, người ta vội đưa hài cốt vị thánh về Bari gần Naples. Từ đó, huyền thoại đời Ngài lại lan rộng. Tại Hà Lan và các vùng thuộc lãnh thổ của người Đức, lễ Thánh Nicôla được mừng vào mùa đông (trong tiếng Hà Lan là Sint Nikolaas, rồi sau đó nói nhanh thành Sinteklaas) và đặc biệt là việc Ngài bảo trợ trẻ em, đã trở thành nguồn gốc của truyền thống chờ đợi quà tặng của “Ông già Noel”. Vào đêm trước lễ Thánh Nicôla, trẻ em để giày hoặc vớ trên ghế hoặc bên cạnh lò sưởi rồi đi ngủ với niềm tin rằng sáng hôm sau chúng sẽ tìm thấy trong đó đầy kẹo bánh và quà tặng.

Nguồn: TGPSG, GP Cần Thơ, HĐGMVietNam, Dòng Tên

Address

Ho Chi Minh City

Opening Hours

Monday 10:00 - 12:00
14:00 - 17:00
Tuesday 10:00 - 12:00
14:00 - 17:00
Wednesday 10:00 - 12:00
14:00 - 17:00
Thursday 10:00 - 12:00
14:00 - 17:00
Friday 10:00 - 12:00
14:00 - 17:00
Saturday 10:00 - 12:00

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Trung tâm hỗ trợ xoa dịu Aurora posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share