Trạm Y Tế phường Hà Lầm, TP.Hạ Long, Tỉnh Quảng Ninh

Trạm Y Tế phường Hà Lầm, TP.Hạ Long, Tỉnh Quảng Ninh "Trạm Y Tế Phường Hà Lầm: Nơi Chăm Sóc Sức Khỏe Vững Mạnh"

26/05/2026
22/05/2026

BẢO ĐẢM AN TOÀN THỰC PHẨM – HÀNH ĐỘNG NHỎ, Ý NGHĨA LỚN TRONG MÙA BÃO LỤT.
Hãy cùng nhau chủ động, sẵn sàng và hành động quyết liệt trước, trong và sau bão lụt để đảm bảo sức khỏe, ngăn ngừa dịch bệnh, giữ vững hậu phương trong sạch – vững mạnh!
🌤️ TRƯỚC KHI BÃO VỀ – CHỦ ĐỘNG PHÒNG NGỪA!
✅ Dự trữ thực phẩm an toàn: chọn mì gói, cá hộp, sữa hộp, gạo, lương khô… những loại dễ bảo quản, sử dụng được lâu dài.
✅ Bảo quản nơi khô ráo, cao ráo – tuyệt đối tránh ẩm mốc, ngập nước.
✅ Dự trữ nước uống đóng chai hoặc nước đun sôi để nguội. Chuẩn bị sẵn Cloramin B, viên Aquatabs để xử lý nước.
✅ Làm sạch, cất giữ dụng cụ nấu ăn gọn gàng, ngăn chuột gián tiếp cận.
🌊 KHI BÃO LỤT XẢY RA – CẢNH GIÁC CAO ĐỘ!
⚠️ Tuyệt đối không dùng thực phẩm sống, ôi thiu, mốc, có mùi lạ hoặc đã bị nước lụt ngập.
🍲 Ưu tiên thực phẩm nấu chín kỹ, không ăn thực phẩm sống, tái, dùng nước sạch đã đun sôi hoặc khử trùng.
🚫 Không dùng nước lũ để rửa, chế biến thức ăn!
🧼 Rửa tay với xà phòng trước khi nấu nướng và sau khi tiếp xúc với nước bẩn.
🌤️ SAU KHI BÃO QUA – KHÔNG CHỦ QUAN!
🗑️ Kiểm tra, loại bỏ thực phẩm có dấu hiệu hư hỏng: mốc, đổi màu, có mùi lạ…
🧽 Vệ sinh tủ lạnh, kho thực phẩm, bếp và dụng cụ nấu nướng bằng nước sạch, chất tẩy rửa.
🚰 Tiếp tục đun sôi hoặc khử trùng nước trước khi sử dụng đến khi có thông báo nước sạch.
🩺 Khi có triệu chứng nôn, tiêu chảy, sốt… hãy đến trạm y tế gần nhất để kiểm tra, điều trị kịp thời.
💪 TOÀN DÂN CHUNG TAY – CHIẾN THẮNG THIÊN TAI!
👉 An toàn thực phẩm là lá chắn vững chắc cho sức khỏe mỗi gia đình!
👉 Bảo vệ thực phẩm – Là bảo vệ chính mình, bảo vệ cộng đồng!
👉 Cùng hành động, cùng lan tỏa, vì một Việt Nam khỏe mạnh, vượt qua thiên tai!

22/05/2026

BÀI TRUYỀN THÔNG: PHÒNG CHỐNG TÁC HẠI CỦA RƯƠU , BIA
a. Rượu, bia là gì ?
- Rượu là các loại thức uống có chứa cồn được chế biến dưới nhiều dạng khác nhau: Bia, rượu đế, rượu nếp, rượu thuốc, các loại rượu đóng chai trong và ngoài nước…Về mặt khoa học rượu là một dung dịch gồm nước và cồn (trong đó cồn chiếm từ 1% đến 50% tính theo thể tích, vì vậy được gọi là rượu từ 10 đến 500). Ngoài các thành phần chính trên, rượu còn chứa một lượng nhỏ các chất riêng biệt của mỗi nhà sản xuất nhằm tạo nên mỗi loại rượu một màu sắc, một hương vị đặc thù riêng. Như vậy thành phần chính và cũng là tác nhân chính gây ra hậu quả tai hại của rượu là cồn Ethylic. Sau khi uống rượu vào cơ thể, sẽ có hai hiện tượng sinh lý cùng xảy ra trong cơ thể, đó là sự hấp thụ rượu nhanh chóng vào cơ thể và sự nỗ lực của cơ thể để đào thải rượu ra bên ngoài.
- Bia là đồ uống có cồn thực phẩm, được sản xuất từ quá trình lên men từ hỗn hợp của các loại nguyên liệu chủ yếu gồm mạch nha (malt), đại mạch, nấm men bia, hoa bia (hoa houblon), nước.
- Tác hại của rượu, bia là ảnh hưởng, tác động có hại của rượu, bia đối với sức khỏe con người, gia đình, cộng đồng, an toàn giao thông, trật tự, an toàn xã hội, kinh tế và các vấn đề xã hội khác.
b. Rượu, bia được hấp thu vào cơ thể như thế nào?
Khi uống rượu vào cơ thể, nó được hấp thu nhanh trực tiếp vào máu với 20% hấp thu tại dạ dày và 80% tại ruột non, sau 30-60 phút toàn bộ rượu được hấp thu hết. Tốc độ hấp thu của rượu vào máu sẽ chậm hơn nếu dạ dày có thức ăn, hoặc dạ dày hoàn toàn rỗng. Ngược lại nếu rượu được uống cùng lúc hoặc xen kẽ với các loại thức uống có gaz như soda, coca v.v… tốc độ hấp thu rượu vào máu sẽ gia tăng và làm người uống sẽ mau say hơn. Sau khi hấp thu, rượu được chuyển hóa chủ yếu tại gan (90%). Một lượng nhỏ rượu còn nguyên dạng (khoảng 5-10%) thải ra ngoài qua mồ hôi, hơi thở và nước tiểu.
c. Cơ thể chúng ta đào thải rượu, bia ra bên ngoài như thế nào?
Cơ thể sẽ bắt đầu hoạt động đào thải rượu ra ngoài cơ thể ngay khi được hấp thu vào máu. Một phần nhỏ được thải ra qua các đường: tuyến mồ hôi, nước tiểu, hơi thở (làm cho hơi thở người uống nồng nặc mùi rượu). Phần lớn số lượng rượu còn lại (khoảng 90% hay nhiều hơn) sẽ được chuyển hóa ở gan để thành những chất không độc đào thải ra ngoài cơ thể. Đây chính là khả năng chuyển hóa giải độc rượu của gan Khi đó rượu sẽ bị ứ lại trong cơ thể và gây độc cho nhiều cơ quan nội tạng trong cơ thể, đặc biệt là gan là cơ quan bị ảnh hưởng tác hại nặng nề nhất.
d. Rượu, bia gây tác hại như thế nào?
- Vô sinh và sảy thai
Rượu có thể ảnh hưởng không tốt đến chức năng năng sinh sản của nam giới, trong dài hạn, rượu làm giảm nồng độ testosterol, dẫn đến suy giảm khả năng tình dục, gây độc đối với tinh hoàn, do đó làm tổn thương tinh trùng hoặc khiến chúng không “chạy” tới trứng được, nên ảnh hưởng đến khả năng sinh sản.
Uống rượu cũng làm giảm khả năng sinh sản của nữ giới, dù là uống lượng nhỏ rượu, bia mặc dù các nhà khoa học chưa rõ nguyên nhân vì sao.
- Tăng nguy cơ ung thư
Những đồ uống có cồn như rượu, bia khi vào cơ thể thì sẽ được giáng hóa ở gan và tạo thành chất độc hại là acetaldehyde, chất này làm tổn thương ADN của tế bào, do vậy làm tăng nguy cơ mắc ung thư như ung thư vòm họng, thực quản, gan, ruột và ung thư vú.
- Độc hại với gan
Có một tỷ lệ người uống rượu hình thành các sẹo xơ trong gan, rồi dẫn đến xơ gan, một loại tổn thương gan tiến triển, không thể đảo ngược lại được, cuối cùng dẫn đến mất hoàn toàn chức năng gan. Bệnh nhân xơ gan cũng bị các biến chứng nguy hiểm đến tính mạng khác như nôn ra máu, nhiễm trùng dịch cổ trướng.
- Thúc đẩy lão hóa da
Rượu gây lợi tiểu, do đó làm cơ thể, cũng như làn da bị mất nước, điều này có ảnh hưởng ngay tức thì và kéo dài đối với làn da và tóc. Bởi cồn làm cạn kiệt vitamin C và vitamin A và sắt trong cơ thể, nên làn da cũng xanh xao, thiếu sức sống, tóc dể gãy rụng, kém hồi phục trước những tác nhân lão hóa của môi trường như ánh nắng và các chất ô nhiễm.
- Ảnh hưởng đến não và thần kinh
Cồn ảnh hưởng đến những chất dẫn truyền thần kinh, theo chiều hướng khiến người đó ngày càng trở nên lo âu, trầm cảm, căng thẳng và đặc biệt là tính cách xấu xa hơn.
- Vấn đề tim mạch
Cồn là chất độc và có ảnh hưởng trực tiếp đến cơ tim. Do vậy khi một người uống rượu, tế bào cơ tim chết và thay vào đó là mô xơ không có khả năng co bóp. Dần dần, các tế bào cơ tim bị thay thế bằng mô xơ không co bóp được, khiến tim yếu và không đủ khả năng đưa máu đi nuôi cơ thể.
Uống rượu cũng ảnh hưởng đến giấc ngủ, do vậy càng làm tăng huyết áp và tăng yếu tố nguy cơ lớn của đột quỵ và nhồi máu cơ tim.
Biểu hiện là khó thở, mệt mỏi, loạn nhịp tim và phù chân.
- Tăng nguy cơ mắc bệnh thận
Thận lọc và thải chất độc ra khỏi dòng máu, rượu làm suy giảm khả năng thực hiện chức năng này của thận, chỉ cần một lần quá chén cũng có thể gây suy thận cấp.
- Viêm tụy
Tụy có hai chức năng nội tiết và ngoại tiết. Nó tiết các enzyme tiêu hóa và gửi đến ruột non giúp cơ thể chuyển hóa thức ăn, đó là chức năng ngoại tiết. Chỉ khi đến ruột các enzyme này mới được hoạt hóa thực hiện chức năng của mình. Nhưng khi uống rượu bia, cồn làm rối loạn quá trình này, các enzyme bị hoạt hóa và thực hiện chức năng ngay khi còn ở trong tụy, do đó gây viêm tụy. Các triệu chứng viêm tụy bao gồm đau bụng, có thể đau dữ dội, buồn nôn, nôn, tiêu chảy, sốt.
- Loãng xương
Trong cơ thể luôn xảy ra quá trình hủy xương và tân tạo xương, có sự cân bằng nhất định giữa hai quá trình này. Cồn trong rượu bia ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình tái tạo xương, ức chế sự tân tạo, từ đó làm xương mỏng, yếu và dễ gãy hơn, đồng thời cũng lâu liền hơn nếu bị gãy. Uống rượu cũng là một một trong những yếu tố được dùng để đánh giá nguy cơ gãy xương.
Với những tác hại cơ bản trên Trường Mầm non Phượng Hồng đề nghị viên chức, người lao động và mọi nhà hãy thực hiện nghiêm túc Luật Phòng chống tác hại của rượu bia là góp phần bảo vệ sức khoẻ bản thân, gia đình và xã hội, thực hiện có hiệu quả các thông điệp sau: Đã uống rượu bia – không lái xe; An toàn giao thông nói không với rượu, bia”, “Không nồng độ cồn sau tay lái”, “Say xỉn lái xe là tội ác”, “Uống rượu, bia và lái xe – Giá đắt phải trả”, “Lạm dụng rượu, bia – Hiểm họa gây tai nạn giao thông”.
Hãy từ chối rượu, bia trước khi quá muộn, đó là lời cảnh tỉnh cho những ai đang hàng ngày sử dụng rượu bia như một thói quen. Đây là một việc làm cần thiết, đặc biệt đối với giới trẻ tương lai để có một cuộc sống khỏe mạnh và xây dựng một xã hội văn minh, an toàn.

BÀI TRUYỀN THÔNG: PHÒNG CHỐNG TÁC HẠI CỦA THUỐC LÁ.Thuốc lá tiếp tục là một trong những mối đe dọa nghiêm trọng nhất đối...
22/05/2026

BÀI TRUYỀN THÔNG: PHÒNG CHỐNG TÁC HẠI CỦA THUỐC LÁ.
Thuốc lá tiếp tục là một trong những mối đe dọa nghiêm trọng nhất đối với sức khỏe cộng đồng trên toàn cầu. Mỗi năm, hơn 8 triệu người tử vong do các bệnh lý liên quan đến thuốc lá, trong đó có khoảng 1,3 triệu ca tử vong là do hút thuốc thụ động, những người không hút nhưng vẫn bị ảnh hưởng bởi khói thuốc trong môi trường.
Thuốc lá – Mối đe dọa nghiêm trọng đến sức khỏe và kinh tế
Thuốc lá từ lâu đã được coi là kẻ thù thầm lặng của sức khỏe con người. Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) xác định đây là một trong những mối đe dọa lớn nhất đối với sức khỏe cộng đồng toàn cầu, với hơn 8 triệu ca tử vong mỗi năm, trong đó khoảng 1,3 triệu ca do hút thuốc thụ động. Năm 2022, theo ước tính của Hội Kinh tế Y tế Việt Nam, tổng chi phí khám chữa bệnh và tử vong do các bệnh liên quan đến thuốc lá lên tới 108.000 tỷ đồng/năm (tương đương 1,14% GDP) con số này cao gấp 5 lần nguồn thu từ thuế thuốc lá.
Ngoài ra, bên cạnh thuốc lá truyền thống, các sản phẩm thuốc lá điện tử (TLĐT) và thuốc lá nung nóng (TLNN) đang ngày càng phổ biến, đặc biệt đối với giới trẻ nhờ mẫu mã hấp dẫn và quảng bá tinh vi. Các sản phẩm này được tiếp thị với hình ảnh “ít tác hại”, khiến người tiêu dùng lầm tưởng về độ an toàn, nhất là trẻ vị thành niên.
Thực tế cho thấy, không có loại thuốc lá nào là không gây hại. TLĐT và TLNN chứa ni****ne – chất gây nghiện mạnh, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển não bộ, cảm xúc và tâm thần của giới trẻ. Ngoài ni****ne, thuốc lá còn chứa nhiều hóa chất độc hại khác gây nguy cơ mắc các bệnh như ung thư, tim mạch, tổn thương phổi và rối loạn tâm thần,…Đáng lo ngại, TLĐT và TLNN thường sử dụng nhiều hương liệu, hóa chất tổng hợp nên có thể bị lợi dụng để pha trộn, sử dụng ma túy, đặc biệt nhằm vào học sinh, sinh viên.
Vì sao trẻ vị thành niên dễ bị thu hút bởi thuốc lá điện tử?
• Thiếu hiểu biết về tác hại của các loại thuốc lá điện tử.
• Tâm lý bất ổn, sử dụng thuốc như một cách giải tỏa căng thẳng.
• Bị thu hút bởi thiết kế bắt mắt, mùi vị đa dạng, tính năng tiện lợi.
• Việc mua bán dễ dàng, thiếu sự kiểm soát với độ tuổi vị thành niên.
• Ảnh hưởng từ bạn bè, sự tò mò, và thiếu kỹ năng sống.
• Muốn chứng tỏ bản thân đã trưởng thành.
• Thói quen bắt chước từ người thân trong gia đình.
Làm gì để phòng, chống tác hại của thuốc lá đối với trẻ vị thành niên?
Để bảo vệ thế hệ trẻ khỏi ảnh hưởng của thuốc lá, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa gia đình, nhà trường, y tế và toàn xã hội. Dưới đây là một số biện pháp:
Đẩy mạnh công tác giáo dục và truyền thông nhằm nâng cao kiến thức cho trẻ về tác hại của thuốc lá.
Trang bị cho trẻ kỹ năng từ chối và tự bảo vệ bản thân trước thuốc lá: Dạy trẻ cách nói “không” với thuốc lá, đặc biệt trong các tình huống bị bạn bè rủ rê. Bên cạnh đó, cần giúp trẻ nhận diện và cảnh giác với các hình thức dụ dỗ ngụy trang “sành điệu”, “thời thượng”,…
Xây dựng môi trường trong lành, không khói thuốc: Gia đình cần nêu gương cho trẻ bằng cách giảm thiểu việc hút thuốc lá. Đồng thời, các địa điểm công cộng như các khu vui chơi, trường học và các bệnh viện cần tuân thủ quy định “khu vực không khói thuốc”.
Tăng cường kiểm soát mua bán và quảng cáo sản phẩm thuốc lá.
aaTư vấn, hỗ trợ trẻ có dấu hiệu sử dụng thuốc lá: phát hiện sớm và can thiệp những trường hợp trẻ cần hỗ trợ tâm lý liên quan hành vi sử dụng thuốc lá.
Ngày Thế giới Không Thuốc Lá 31/5 là dịp nhắc nhở mạnh mẽ về trách nhiệm chung của nhà trường, gia đình và chính các em học sinh trong việc phòng chống thuốc lá. Hãy cùng chung tay bảo vệ thế hệ trẻ – tương lai của đất nước – khỏi những tác hại nghiêm trọng của thuốc lá, đồng thời xây dựng một môi trường sống an toàn, lành mạnh và không khói thuốc.

08/05/2026
08/05/2026

Bài tuyên truyền:
Bệnh tan máu bẩm sinh: Nguyên nhân, dấu hiệu, chẩn đoán, phòng ngừa

Tan máu bẩm sinh là bệnh lý di truyền có đặc điểm gây tan máu thường xuyên và dẫn tới tình trạng thiếu máu. Tại Việt Nam ước tính cứ mỗi năm có thêm 8000 trẻ bị bệnh tan máu bẩm sinh. Đây là bệnh lý nguy hiểm, nhiều người mắc bệnh cần phải điều trị y tế suốt đời, chất lượng cuộc sống thấp. Đó là thiệt thòi lớn cho người bệnh, gia đình bệnh nhân và cho toàn xã hội.
Bệnh tan máu bẩm sinh là gì?
Tan máu bẩm sinh (Thalassemia) là bệnh lý di truyền xảy ra do gen quy định chức năng tổng hợp hemoglobin trên gen NST số 11 và NST số 16 bị lỗi, có thể là một đột biến điểm hoặc mất một đoạn trên gen tạo ra các hemoglobin bất thường. Từ các hemoglobin bất thường này sẽ dẫn tới tổng hợp các hồng cầu không có chức năng vận chuyển oxy và dễ bị các cơ quan khác bắt giữ và phá hủy từ đó gây nên các hiện tượng thiếu máu và các tình trạng khác.
Ở trên thế giới, tan máu bẩm sinh được phát hiện và nghiên cứu từ những năm 1925. Ở Việt Nam đến nhưng năm 1960 các nhà khoa học mới bắt đầu nghiên cứu căn bệnh này. Hiện nay trên thế giới có khoảng 300 triệu người bệnh tan máu bẩm sinh, trong đó khoảng 500.000 người mắc bệnh ở thể nặng.
Tan máu bẩm sinh là bệnh thường gặp trong dân số Việt Nam với khoảng 13 triệu người mang gen bệnh, đặc biệt là tỷ lệ người lành mang gen phân bố ở hầu hết các khu vực và dân tộc. Ước tính tại nước ta có hơn 20.000 người bị tan máu bẩm sinh ở mức độ nặng cần chăm sóc y tế trọn đời. Khoảng 8.000 trẻ chào đời mỗi năm bị bệnh trong đó 2000 trẻ mắc bệnh ở mức độ nặng và 800 trẻ không có cơ hội chào đời do phù thai.
Các thể tan máu bẩm sinh thường gặp
Tan máu bẩm sinh có hai thể chính thường gặp là Alpha thalassemia và Beta thalassemia. Các gen alpha nằm trên NST 16 và gen beta nằm trên NST 11 quy định sự tạo thành hemoglobin và tạo thành hồng cầu có chức năng vận chuyển oxy. (1)
Thể Alpha: do 4 gen alpha nằm trên NST số 16 là 2 gen HBA2 và 2 gen HBA1. Nếu mất một hoặc nhiều gen sẽ gây ra các ảnh hưởng khác nhau đối với bệnh alpha thalassemia. Nặng nhất nếu bệnh nhân mất cả 4 gen alpha sẽ gây nên hội chứng phù thai.
Thể Beta: do các gen nằm trên NST số 11 có thể xuất hiện từ mức độ nhẹ đến trung bình. Hiện có khoảng 250 đột biến gen beta thalassemia được phát hiện trong đó có khoảng 20 đột biến thường gặp.
Mức độ bệnh tan máu bẩm sinh
Tùy vào thể bệnh và số lượng gen bị mất sẽ có những mức độ bệnh khác nhau. Thông thường người bị tan máu bẩm sinh thường có các mức độ bao gồm:
Thể nhẹ: người bệnh ở thể nhẹ thường không có dấu hiệu hoặc biểu hiện thiếu máu kín đáo. Phần lớn bệnh nhân phát hiện bệnh sau khi đi thăm khám sức khỏe, mang thai, phải làm phẫu thuật hoặc mắc bệnh lý nhiễm trùng cần điều trị… Người bệnh tan máu bẩm sinh thể nhẹ thường không cần điều trị, chỉ theo dõi tình trạng thiếu máu.
Thể trung bình: người bệnh ở mức độ trung bình thường có dấu hiệu thiếu máu rõ ràng khi qua 6 tuổi. Người bệnh xuất hiện một số triệu chứng lâm sàng như thiếu máu nhẹ và có chuỗi globin giảm.
Thể nặng: người bệnh tan máu bẩm sinh mức độ nặng thường xuất hiện tình trạng thiếu máu tặng ở giai đoạn 5-6 tuổi. Với người bệnh thể nặng nếu không được phát hiện và điều trị đúng lúc sẽ dẫn đến các hậu quả nghiêm trọng như thiếu máu nặng, gan, lách to, vàng da. Bên cạnh đó, người bệnh tan máu bẩm sinh thể nặng cũng có một số biểu hiện về ngoại hình đặc trưng của bệnh như xương trán dô ra, hàm trên hô, mũi tẹt, xương chẩm… Người bệnh mắc các vấn đề về phát triển cả về sức khỏe thể chất, vận động và tâm thần.
Thể rất nặng: thường có biểu hiện ngay ở giai đoạn còn trong bụng mẹ, thai nhi có nguy cơ phù thai gây lưu thai. Trẻ mắc bệnh ở mức độ rất nặng sinh ra có nguy cơ tử vong cao do thiếu máu nặng và suy tim thai.
Nguyên nhân gây bệnh tan máu bẩm sinh
Nguyên nhân tan máu bẩm sinh do bất thường hoặc có đột biến ở các gen liên quan đến việc sản xuất ra hemoglobin. Đây là một bệnh di truyền lặn, đồng nghĩa với việc bố mẹ mang gen nhưng không biểu hiện bệnh, nhưng khi người con nhận cả 2 gen bất thường của bố mẹ thì sẽ biểu hiện bệnh. (2)
Theo quy luật về di truyền học, mỗi em bé khi được hình thành sẽ nhận 1 nửa vật chất di truyền đến từ mẹ và nửa còn lại đến từ bố. Trường hợp chỉ có bố hoặc mẹ là người bình thường, và người còn lại mang gen bệnh thì tỷ lệ em bé được sinh ra mang gen bệnh là 50% và 50% là bình thường.
Đối với trường hợp cả bố và mẹ đều là người mang gen bệnh tan máu bẩm sinh (gen dị hợp tử) thì em bé được tạo thành có thể rơi vào 1 trong 3 trường hợp bao gồm:
50% em bé sinh ra giống bố mẹ (mang gen bệnh nhưng không có biểu hiện bệnh)
25% em bé khỏe mạnh bình thường, không mang gen bệnh.
25% em bé sinh ra bị tan máu bẩm sinh và có biểu hiện bệnh (thiếu máu tán huyết).
Dấu hiệu bệnh tan máu bẩm sinh thalassemia
Tùy vào từng mức độ bệnh, thể bệnh thalassemia sẽ có những dấu hiệu cảnh báo. Dấu hiệu bệnh tan máu bẩm sinh có thể kể đến như:
Da nhợt nhạt, xanh xao, vàng da;
• Người mệt mỏi;
• Thường xuyên gặp vấn đề về nhiễm trùng;
• Chán ăn, ăn không ngon miệng;
• Chậm phát triển;
• Lách to;
• Việc điều trị sớm sẽ giúp ngăn chặn những biến chứng của bệnh. Vì vậy, nếu có các dấu hiệu kể trên hoặc nghi ngờ mình bị mắc bệnh tan máu bẩm sinh, người bệnh có thể đến các bệnh viện để được làm xét nghiệm kiểm tra và lên phương án điều trị.
Bệnh tan máu bẩm sinh có nguy hiểm không?
Tan máu bẩm sinh là bệnh lý nguy hiểm. Bệnh có các mức độ từ nhẹ đến nặng trong đó mức độ nặng nhất có thể gây nên tình trạng phù thai, thai chết lưu khi còn ở trong tử cung của người mẹ. Trường hợp người bệnh ở thể nặng phải sống phụ thuộc vào việc truyền máu và thải sắt suốt đời kèm theo các biến chứng ở các cơ quan như suy gan, suy tim, suy giảm nội tiết tố, biến dạng mặt, xơ gan, gặp vấn đề về sinh sản… thậm chí là tử vong. (3)
Qua một báo cáo từ năm 2001 cho đến nay, chất lượng sống của bệnh nhân tan máu bẩm sinh thấp và số tử vong lớn. Có tới 20% bệnh nhân tan máu bẩm sinh tử vong ở lứa tuổi từ 6-7 tuổi, phần lớn các bệnh nhân ở mức độ nặng thường không có cơ hội lập gia đình.
Với số lượng người mắc bệnh tan máu bẩm sinh lớn khiến việc điều trị ở nhiều bệnh viện quá tải. Điều này gây ra áp lực đối với ngân hàng máu cũng như tăng gánh nặng về chi phí xã hội. Ước tính việc điều trị cho một người bệnh tan máu bẩm sinh thể nặng từ khi sinh ra cho đến năm 30 tuổi sẽ rơi vào khoảng 3 tỷ đồng, và cần 470 đơn vị máu để thực hiện truyền máu, duy trì cuộc sống cho người bệnh đến năm 21 tuổi.
Trên thế giới, ước tính có 80% bệnh nhân tan máu bẩm sinh sinh sống ở các quốc gia, khu vực có thu nhập thấp và trung bình, họ phải đối mặt với nhiều khó khăn về việc đáp ứng dịch vụ chăm sóc y tế cũng như các dịch vụ chăm sóc liên quan khác. May mắn, tan máu bẩm sinh là bệnh lý nguy hiểm tuy nhiên có thể chủ động phòng ngừa.
Phương pháp chẩn đoán chứng bệnh tan máu bẩm sinh
Làm sao để chẩn đoán bệnh tan máu bẩm sinh là vấn đề mà nhiều người quan tâm. Việc chẩn đoán tan máu bẩm sinh có thể thực hiện qua các xét nghiệm máu như:
Tổng phân tích tế bào máu ngoại vi: Với phương pháp này, nếu kết quả cho thấy lượng huyết sắc tố giảm và ghi nhận hồng cầu nhỏ nhược sắc, với kích thước và hình thái đa dạng… Bác sĩ có thể chẩn đoán sơ bộ về tình trạng của bạn có mắc bệnh tan máu bẩm sinh hay không.
Điện di huyết sắc tố: Với phương pháp này có thể chẩn đoán thể bệnh tan máu bẩm sinh mắc phải. Đây cũng là xét nghiệm quan trọng trong việc chẩn đoán bệnh.
Xét nghiệm DNA: Xét nghiệm này giúp xác định các đặc điểm tổn thương gen tổng hợp chuỗi globin, giúp phát hiện những bất thường trong các vật chất di truyền ở người bệnh.
Các xét nghiệm sinh hóa kết hợp khác.
Cần làm gì khi được chẩn đoán mang gen tan máu bẩm sinh?
Khi được chẩn đoán mắc bệnh tan máu bẩm sinh, điều đầu tiên người bệnh cần tham vấn với bác sĩ về tình trạng của mình và những lưu ý về việc điều trị bệnh cũng như chăm sóc người bệnh.
Việc tuân thủ kế hoạch trị liệu của bác sĩ là rất quan trọng đối với người bệnh. Bên cạnh đó người bệnh nên duy trì một thói quen sống lành mạnh, chế độ dinh dưỡng phù hợp như:
Chú ý tránh tình trạng dư sắt: người bệnh không được tự ý sử dụng các loại vitamin hoặc thuốc bổ sung sắt khi chưa có chỉ định của bác sĩ;
Chế độ ăn lành mạnh bổ sung thêm rau chủ, hạn chế các thực phẩm giàu chất sắt và loại thực phẩm như ngũ cốc, bánh mì, các loại trái cây như chuối, lựu…
Bổ sung axit folic để tăng tạo hồng cầu và ngăn ngừa những tác động của việc thừa sắt trong cơ thể. Tuy nhiên việc bổ sung liều lượng như nào cần được chỉ định bởi bác sĩ, không tự sử dụng khi chưa có chỉ định.
Tránh việc nhiễm trùng: người bị bệnh tan máu bẩm sinh có nguy cơ nhiễm trùng cao hơn so với người bình thường. Đặc biệt với người bệnh đã làm phẫu thuật cắt lách cần chú ý hơn về vấn đề này. Khi người bệnh có dấu hiệu sốt, nguy cơ nhiễm trùng cần đến bệnh viện để được thăm khám.
Tiêm phòng đầy đủ là điều cần thiết đối với người bệnh để phòng tránh bệnh tật như cúm, viêm não, rubella…
Bệnh có chữa được không?
Hiện nay có nhiều phương pháp được áp dụng điều trị bệnh tan máu bẩm sinh.Tùy vào mức độ bệnh, tình trạng bệnh sẽ có những chỉ định điều trị phù hợp. Các chỉ định điều trị tan máu bẩm sinh cơ bản như:
Truyền máu: Chỉ định truyền máu áp dụng với người bệnh có thiếu máu, kết quả sau 2 lần kiểm tra mà nồng độ hemoglobin là 7g/dl và không có nguyên nhân khác kèm theo, hoặc mức hemoglobin trên 7g/dl và có biến dạng về xương. Việc truyền máu cần được thực hiện đúng chỉ định và người bệnh được theo dõi chặt chẽ tại bệnh viện.
Thải sắt: Việc điều trị ứ sắt thường được chỉ định bằng việc tiêm hoặc uống. Người bệnh nên được thải sắt khi ferritine huyết thanh trên 1000ng/ml. Việc điều trị thải sắt thường là điều trị cả đời.
Cắt lách: Với bệnh nhân đáp ứng ít hiệu quả với việc truyền máu hoặc lách phát triển quá to, gây đau đớn ảnh hưởng đến việc sinh hoạt thì sẽ có chỉ định này.
Ghép tế bào gốc: đây là phương pháp tiên tiến với hy vọng có thể chữa khỏi bệnh. Phương pháp này được áp dụng với những người bệnh ở mức độ nặng, tuy nhiên có một hạn chế là khó tìm được tế bào gốc phù hợp. Quá trình cấy ghép cũng tồn tại nhiều rủi ro.
Phương pháp phòng ngừa chứng bệnh tan máu bẩm sinh Thalassemia
Việc phòng ngừa bệnh tan máu bẩm sinh là vấn đề được nhà nước quan tâm và tuyên truyền đến cộng đồng nâng cao ý thức trong việc phát hiện, điều trị và phòng ngừa bệnh. Tan máu bẩm sinh là bệnh có thể phòng ngừa bằng các sàng lọc trước sinh và xét nghiệm tiền hôn nhân.
Khám tiền hôn nhân: Cặp đôi trước khi kết hôn, sinh con nên thăm khám tiền hôn nhân để không chỉ kiểm tra về sức khỏe sinh sản mà còn nên thực hiện các xét nghiệm kiểm tra bệnh tan máu bẩm sinh. Trong trường hợp phát hiện một trong hai hoặc cả hai cùng mang gen bệnh, bác sĩ sẽ tư vấn về căn bệnh này cũng như các phương pháp tối ưu nhất để có thể sinh ra những em bé khỏe mạnh, không mang gen bệnh trong tương lai.
Phụ nữ mang thai cần đảm bảo sức khỏe tốt và thực hiện các mốc thăm khám thai đầy đủ. Với trường hợp mẹ bầu lo lắng em bé có thể mắc bệnh tan máu bẩm sinh có thể trao đổi với bác sĩ để thực hiện một số xét nghiệm trước sinh như chọc ối, sinh thiết g*i nhau.
Cặp vợ chồng cùng mang gen bệnh và lo lắng sinh em bé mang gen bệnh nặng hoặc có tiền sử lưu thai do phù thai, em bé sinh ra mắc tan máu bẩm sinh thể nặng có thể cân nhắc đến việc thực hiện thụ tinh trong ống nghiệm, tạo phôi và tiến hành sinh thiết phôi để lựa chọn những phôi khỏe mạnh, không mang gen bệnh để chuyển vào buồng tử cung người mẹ.
Tại IVFTA-HCMC áp dụng các kỹ thuật xét nghiệm hiện đại trong sàng lọc phôi để sàng lọc các bệnh lý về gen. Với bệnh tan máu bẩm sinh có thể sàng lọc ở giai đoạn phôi thai với xét nghiệm sàng lọc di truyền tiền làm tổ PGT-Preimplantation Genetic Testing. Xét nghiệm này được biết đến là kỹ thuật chuyên sâu về di truyền bên trong phôi.
Điều này giúp bác sĩ ghi nhận được những thông tin của phôi, lựa chọn phôi có bộ nhiễm sắc thể bình thường trước khi chuyển phôi. Nhờ áp dụng kỹ thuật này mà ngăn ngừa được một số bệnh di truyền cũng như giảm tỷ lệ đình chỉ thai kỳ vì các bệnh lý di truyền trong đó có bệnh tan máu bẩm sinh.
Với mục tiêu nâng cao tỷ lệ thành công trong điều trị hiếm muộn, giúp các cặp vợ chồng thuận lợi đón những em bé khỏe mạnh về nhà. IVFTA-HCM áp dụng những công nghệ mới nhất cùng phác đồ cá thể hóa trong điều trị.
IVF Tâm Anh tiên phong xây dựng lab phôi học công nghệ cao, thiết kế lab-in-a-lab kết hợp phòng nuôi cấy phôi theo tiêu chuẩn ISO 5 đóng vai trò trọng yếu vào kết quả mang thai của khách hàng.
Những kỹ thuật khó, như kỹ thuật trưởng thành trứng non (IVM), micro-TESE, trữ giao tử số lượng ít, xét nghiệm chẩn đoán di truyền tiền làm tổ (PGT), bơm huyết tương giàu tiểu cầu tự thân, xét nghiệm sinh thiết tử cung Era test xác định chính xác ngày chuyển phôi…, những kỹ thuật mà trước đây khách hàng cần phải ra nước ngoài để thực hiện thì hiện nay có thể thực hiện ngay tại phòng lab của IVFTA.

Address

Tổ 11, Khu 4
Phường Hà Lầm

Opening Hours

Monday 09:00 - 17:00
Tuesday 09:00 - 17:00
Wednesday 09:00 - 17:00
Thursday 09:00 - 17:00
Friday 09:00 - 17:00

Telephone

+84982560599

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Trạm Y Tế phường Hà Lầm, TP.Hạ Long, Tỉnh Quảng Ninh posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Shortcuts

Share