26/08/2026
Vương Thanh Nhậm (1768–1831) là y gia nổi tiếng thời nhà Thanh, đặc biệt với những luận thuật về khí huyết và huyết ứ trong Y Lâm Cải Thác. Ông cho rằng khi nguyên khí hư, huyết quản mất sự thúc đẩy của khí sẽ không thông, từ đó huyết đình đọng mà hình thành huyết ứ. Vì vậy, tư tưởng điều trị nổi bật của ông là bổ khí, hoạt huyết và trục ứ.
Trong Y Lâm Cải Thác, Vương Thanh Nhậm ghi lại 22 phương thuốc liên quan đến pháp hoạt huyết, trong đó nhiều phương vẫn được sử dụng cho đến ngày nay như Bổ dương hoàn ngũ thang, Thân thống trục ứ thang, Thông khiếu trục ứ thang, Cách hạ trục ứ thang, Thiếu phúc trục ứ thang và đặc biệt là Huyết phủ trục ứ thang.
Theo mô tả của Vương Thanh Nhậm, “huyết phủ” nằm phía dưới vùng ngực, tương ứng với cơ hoành theo cách lý giải giải phẫu của ông và được xem là nơi huyết hội tụ. Khi huyết ứ kết ở vùng ngực, cần làm cho huyết phủ được lưu thông, từ đó hình thành tên gọi Huyết phủ trục ứ thang.
Vì sao bài thuốc có thể “trục ứ” vùng ngực?
Bài thuốc gồm Sinh địa, Xích thược, Đương quy, Xuyên khung, Đào nhân, Hồng hoa, Chỉ xác, Sài hồ, Cát cánh, Xuyên ngưu tất và Cam thảo.
Phối ngũ của phương thể hiện khá rõ định hướng điều trị: nhóm thuốc tương tự Tứ vật Đào hồng làm nền tảng dưỡng huyết, hoạt huyết, hóa ứ; Cát cánh dẫn thuốc đi lên vùng ngực; Chỉ xác hành khí ở ngực; Sài hồ giải khí uất; trong khi Xuyên ngưu tất vừa hoạt huyết vừa dẫn huyết đi xuống. Sự phối hợp thăng – giáng này hướng đến mục tiêu hành khí, hoạt huyết và giải huyết ứ vùng ngực.
Theo phân tích bài thuốc, Huyết phủ trục ứ thang phù hợp với các biểu hiện thuộc huyết ứ ở vùng ngực, như cảm giác nặng ngực, đau ngực và các chứng trạng liên quan khí trệ huyết ứ.
Trong thực hành lâm sàng, các biểu hiện đau hoặc nặng ngực, đặc biệt khi kéo dài, không nên mặc định quy về “huyết ứ”. Người bệnh cần được đánh giá nguyên nhân theo Y học hiện đại để loại trừ bệnh lý tim mạch, hô hấp và các tổn thương thực thể, trước khi cân nhắc biện chứng luận trị và phối hợp Y học cổ truyền.