Bài Thuốc Gia Truyền Của Bắc Kạn

Bài Thuốc Gia Truyền Của Bắc Kạn Đặc trị các bệnh thoái hóa cột sống, thoát vị đĩa đệm, cùng hóa, suy tim, h?

CHỮA CHỨNG UẤT Ở PHỤ NỮVà sai lầm trong biện chứng luận trịTrong Đông y chứng bệnh Âm Hư và Dương Hư tuy đối lập và khác...
31/05/2026

CHỮA CHỨNG UẤT Ở PHỤ NỮ
Và sai lầm trong biện chứng luận trị

Trong Đông y chứng bệnh Âm Hư và Dương Hư tuy đối lập và khác nhau hoàn toàn. Nhưng thực tế lại rất khó phân biệt, khi ở giai đoạn mùa Hạ nắng và nóng.
Không chỉ thày thuốc mới vào nghề, mà ngay cả những thày thuốc lâu năm cũng dễ bị sai. Đặc biệt là các thày chưa biết bắt mạch.

Một học viên mới, xin tư vấn:
Bn nữ, 32 tuổi, trời nắng nóng thì cơ thể rất nóng, người luôn vã mồ hôi, căng thẳng, nhiều lúc bộc phát cáu gắt bực tức vô cớ. Hai lòng bàn tay, bàn chân nóng như lửa đốt, sờ vào ai cũng kêu “sao tay mày nóng thế”. Người hay mệt mỏi, huyết áp thường khoảng 110/70/60. Thỉnh thoảng tức ngực, nóng rát trong bụng, có lúc trào ngược. Có mỏi cổ, gáy, vai, tay. Đi ngoài phân bỉnh thường, có lúc ăn lạ đi ngoài phân lỏng.

Em chẩn đoán theo thày dạy trong trường là “Chứng Uất”. Liền cắt 5 thang “Sài Hồ Sơ Can Thang” cho uống. Uống được 2 thang thấy đỡ nóng, sau đó trở đi lại như cũ và sinh tiêu chảy, phân lổn nhổn táo và nát.
Sau khi tư vấn lại, cho là Uất nặng, liền phối dùng thêm “Việt Cúc Hoàn”. Được 1 thang thì tiêu chảy nặng.

Trước đây em làm Vật Lý Trị Liệu, đa số khách bị Cổ-Vai-Gáy-Tay, nên em học thêm để lấy chứng chỉ hành nghề. Có học nâng cao với tôi 2 khóa: Y Lý và Phương pháp chữa thoái hóa cột sống cổ. Nên em tư vấn tôi về ca bệnh trên.

Tôi bảo “em đã khám đâu mà đã chẩn đoán vậy, sao ko dùng món võ Ngũ Chẩn và Đối Chứng Lập Phương thày dạy, lại đi Đối Bệnh Lập Phương là hỏng bét”. Lúc này em mới giật mình, ôi em quên mất.

Qua thông tin, tôi kết luận Bn bị chứng Dương Hư. Dương Hư còn gọi là Hỏa Hư hay Mệnh Môn Hỏa Suy...

Sau khi hướng dẫn em dùng Ngũ Chẩn, em đã khám phá ra chân lý. Tôi lại nghĩ thêm ra cách khác: dùng quạt cỡ mạnh nhất thổi trực tiếp vào bụng và chân Bn. Quả đúng như lời, sau khi dùng “Kính chiếu yêu, soi chiếu, yêu quái đã hiện nguyên hình”, sau khoảng 10 phút, Bn thấy lạnh 2 chân và buồn đi ngoài. Hỏi thêm về bệnh tuyến giáp, tử cung, vú… thì mới đi khám, ko có các bệnh trên. Thế thì dễ quá, 1 thang đã chuyển.

Tôi kê đơn thuốc: “Toàn Chân Nhất Khí Thang” gia Nhục Quế 2g. Dặn cắt 5 thang mỗi lần, sau nếu cần thì gia giảm thêm, uống liền 2-3 tháng để củng cố.

Sau khi uống 1 thang, ban ngày Bn mải làm việc nên ko để ý. 7 giờ tối uống thêm, sau uống khoảng hơn 20 phút tự nhiên thấy rùng mình, nhưng ko đi ngoài (trước mỗi lần rùng mình là buồn đi ngoài). Cho 2 bé đi ngủ chạm vào người ko thấy bé kêu nóng, thử chạm vào chồng, thấy kêu đỡ nóng nhiều. Thử chạm lòng bàn tay vào đùi mình, cũng thấy ấm nhẹ.

Cứ thế uống 20 ngày thì hết thuốc. Đến cắt thêm, phản hồi: “trước mỗi lần báo cáo ở cơ quan thì vã mồ hôi, 2 nách áo ướt đẫm vì căng thẳng. Hôm vừa rồi báo cáo thấy ngon ơ, cơ thể thấy mát mà hết mệt mỏi, bớt cáu gắt rất nhiều. Mỗi lần đi làm về, thấy bọn trẻ bày la liệt đồ chơi thì quát um lên, giờ tự dưng thấy vui vui khi bọn trẻ ùa ra đón… Cổ gáy, vai, tay cũng hết mỏi rồi, thế mới đểu chứ”.

Lời kết:
- Âm Hư: 2 lòng bàn tay nóng, 2 lòng bàn chân cũng nóng, giữa ngực nóng. Nếu kèm Cốt Chưng Triều Nhiệt (thì cứ đến lúc Thủy Triều lên 3-5 giờ chiều, thì cơ thể như ngấy sốt, nóng âm ỉ trong ống xương như đem chưng lên, nhưng đo nhiệt độ lại bình thường). Miệng khô khát, cáu gắt, có thể kèm mẩn ngứa, tiểu ít, tiểu sẻn đỏ. Lưỡi đỏ ko rêu, mạch Hồng Đại.
- Dương Hư về mùa hè: 2 lòng bàn tay cực nóng, 2 lòng bàn chân nóng, nửa người trên rất nóng, vã mồ hôi, cáu gắt, hay mệt mỏi, thiếu sức… Nếu mùa hè Bn uống rượu, bia thì thân nhiệt tăng rất cao, cũng mẩn ngứa, càng nhầm với Âm Hư. Nhưng mùa đông chân tay lạnh, sợ lạnh. Lưỡi bệu, rêu lưỡi trắng, mạch Trầm Trì Nhu Nhược.
- Dương Hư hay Thận Hỏa Hư, Mệnh Môn Hỏa Suy: ngọn lửa yếu, gần tàn, lơ lửng bay lên. Giống như khi ta đốt rác, đốt tiền vàng mã, thì khi gần cháy hết có tàn giấy, tàn lửa bay lên, nó gây ra chứng Thương Thục Hạ Hư, Thượng Nhiệt Hạ Hàn. Ngày nay ăn uống cay nóng, bia rượu phối hợp, khiến trong bụng thì nóng ran, thế mới gây chẩn đoán nhầm. Nếu dùng thuốc Thanh Lương thì lửa sẽ yếu hơn hoặc tắt. Phép chữa đúng là phải Bổ Hỏa Mệnh Môn hay Dẫn Hỏa Quy Nguyên (đưa ngọn lửa tàn chay tán loạn, về nơi sinh ra, nơi ở của nó).
- Dương Hư hay Âm Hư, Hàn hay Nhiệt, Phong hay Táo, Thử hay Thấp, Thực hay Hư, Biểu hay Lý… nếu nắm bí quyết thì dùng 1 trong Ngũ Chẩn sẽ phân biệt được 1 cách đơn giản và chính xác.

Bắc Kạn 31/5/2026
Vũ Thủy

27/05/2026

ĐÔNG Y THỜI AI

Nhiều người thân, bạn bè và các đồng nghiệp gần đây chia sẻ, khuyên rằng nên bắt kịp xu thế AI, nếu ko sẽ tụt hậu. Cũng có người nhắn tin, gọi điện tư vấn các khóa học “Chuyển đổi số” và “AI”, để áp dụng trong công việc, đời sống…

Rất nhiều người ko biết rằng Đông Y (ĐY) khác với các môn Tân Thời (hiện đại) khác. Nhiều người cũng dùng AI để viết bài về các loại dược liệu, thuốc, bài thuốc hay Y Lý Cổ truyền cơ bản. Các trang này thường coppy trực tiếp, hoặc dùng AI coppy (AI sẽ tổng hợp thông tin trên trang được đề xuất),vì vậy thông tin giống hệt nhau, có nhiều thông tin đúng, có nhiều thông tin sai. Thậm chí còn bịa ra.

Làm nghề ĐY là Đọc-Hiểu, nói cách khác thày thuốc ĐY phải đọc, học, suy nghĩ, nghiên cứu, tìm tòi, học hỏi từ nhiều nguồn (Bệnh học ĐY và TY)… để hiểu thấu đáo ra vấn đề. Cái hiểu này được gọi là Giác Ngộ (bất chợt hiểu ra), nó giống như là giải câu đố của người khác vậy. Có nhiều thày làm nghề cả đời nhưng ko giác ngộ ra được chân lý. Mặt khác ngày nay ai cũng muốn học nhanh để ra kiếm tiền, nên đốt cháy giai đoạn. Các thày giảng dạy cũng ko hiểu được ý tứ sâu xa, dạy bừa bãi, nhưng lại tràn ngập cõi mạng, những bài viết chân chính của 1 số tác giả (quên tên) đã lùi lại cuối trình duyệt.

Ví dụ: 1 số trường dạy bậy bạ rằng: “Tiên Thiên Thủy Hỏa là dùng Thận Thủy để Giáng Tâm Hỏa”và “Nó được thể hiện bởi chứng Tâm Thận Bất Giao”…
- Học Thuyết Thủy Hỏa: Tiên Thiên Thủy Hỏa là Thận Thủy và Thận Hỏa thì ai học “Học Thuyết Thủy Hỏa” cũng biết là Thận Thủy và Thận Hỏa, lấy đâu ra Tâm Hỏa. Tiêu biểu là bài thuốc “Lục Vị Địa Hoàng Hoàn” và “Bát Vị Địa Hoàng Hoàn” đều là Bổ Thận Thủy và Thận Hỏa, lấy đâu ra Tâm Hỏa ở đây.

- Học Thuyết Ngũ Hành: trong Ngũ Hành thì Thận thuộc Thủy, Tâm thuộc Hỏa, Thận Thủy lại Khắc Tâm Hỏa, lấy đâu ra mà Giáng. Giáng Hỏa là Giáng cái Hư Hỏa (gần tàn) của Thận Hỏa leo lét bay lên, về nơi “cội nguồn nguyên phát” (về nơi sinh ra, nơi ở của nó), vì vậy gọi là “Dẫn Hỏa Quy Nguyên”. Tâm ở trên cao nhất của Ngũ Tạng, lại chủ Thần Minh sao lại đi Giáng Tâm Hỏa. Chỉ có Tả Tâm Hỏa, chứ ko có Giáng Tâm Hỏa,

- Tâm Thận Bất Giao: đây là quan điểm của 1 thày thuốc xưa, thấy các triệu chứng trên 1 người bệnh, liền đặt tên như vậy. Đây là 1 chứng bệnh, ko phải là Học Thuyết.

Thày mà còn hiểu lơ mơ, thì sẽ đẻ ra bao nhiêu thế hệ thày thuốc kém cỏi. Đấy cũng là nguyên nhân người muốn làm nghề ĐY mỗi 1 thời điểm lại thay đổi, học cao hơn, gắt gao hơn… Và còn bị coi thường là Lang Băm.

Giác Ngộ: cần phải hiểu rằng Giác Ngộ là hiểu ra, khám phá ra bí mật, bí quyết. Vì vậy khi khám phá ra 1 bí quyết của ĐY thì gần như “Bất Khá Chiến Bại” (đạt 90% đỡ, khỏi). Và bí quyết cũng đều là sự đơn giản, gần gũi ngay trước mắt ta.

Ví dụ về sự giác ngộ: khi ta giác ngộ về Chứng Tý (xương khớp, cột sống) của ĐY, thì khi chữa bệnh đạt tỷ lệ đỡ, khỏi khoảng 90%. Chỉ cần nhìn bài thuốc, ta có thể phân tích được tác dụng mạnh, yếu, đỡ, khỏi. Ta cũng có thể tự sáng chế ra các bài thuốc chữa các Chứng Tý hiệu quả.

Qua phân tích trên, ta sẽ thấy 1 thực tế rằng: Muốn làm thày thuốc ĐY khá, giỏi, cần nghiên cứu, học hỏi thực chất. Học phải đi đôi với Hành mới được.

Lý thuyết ko thực hành thì chỉ là lý thuyết suông. Hành mà ko học lý thuyết, giống như làm bừa mà ko có phương pháp, thì là làm mò. Bất cứ nghề gì, phải yêu nghề, tìm tòi học hỏi, nghiên cứu… sẽ vững tay nghề.

Vậy thì AI có chỗ đứng trong ĐY được ko? Chỉ những kẻ lười biếng, muốn ăn sẵn, đồ miễn phí khó có đồ ngon, tốt.

Send a message to learn more

23/05/2026

GIẢM ĐAU TRONG VIÊM KHỚP DẠNG THẤP

Bn nữ ngoài 60 tuổi, bị mắc viêm đa khớp dạng thấp vài chục năm, có các triệu chứng:
- Chưa bị biến dạng khớp, ko bị teo cơ chân, khớp có cứng nhẹ, ko ngồi xổm, gập gối được. Giai đoạn mãn tính, đã kiêng khem nhiều nên khớp không bị sưng nề.
- Đau tất cả các khớp trên cơ thể, lúc nào cũng đau (đau triền miên). Nặng nhất 2 khớp gối. Cổ, vai, gáy và thắt lưng đau.
- Cơ thể lạnh, chân tay lạnh, thời tiết chuyển lạnh đau tăng.
- Hay đầy bụng, kèm rối loạn tiêu hóa (hội chứng ruột kích).
- Ăn hạn chế (do sợ béo và sợ tăng áp lực lên khớp gối), ngủ được, vẫn làm việc.
- Tiểu đêm 2-3 lần.
- Huyết áp 160, đang uống thuốc huyết áp.
Do có người nhà đã dùng thuốc của Thủy, nên giới thiệu. Chị đồng ý cắt thuốc loại tốt.

Qua các triệu chứng trên ta có:
- Bát Cương: Lý Hư Hàn Âm.
- Thể bệnh thuộc: Phong Hàn Thấp.
- Phép trị: Kiện Tỳ, Bổ Âm Dương, Khí Huyết, Khu Phong, Trừ Thấp, Trục Hàn.
- Dụng phương: Thập Toàn Đại Bổ Thang gia giảm.

• Phân tích:
Do chị vẫn đang làm việc, nên không áp dụng phép “Bả Hỏa Thiêu Thiên” tức là dùng bài Độc Hoạt Tang Ký Sinh Thang gia giảm, dùng Độc Hoạt, Khương Hoạt liều cao để nhanh đỡ khỏi, nhưng sẽ tăng các cơn đau dữ dội tại các khớp, sau giảm dần.

Mặt khác những người bị bệnh xương khớp lâu năm, cơn đau hành hạ, nên dùng rất nhiều các loại thuốc ĐY, đặc biệt là thuốc kháng viêm, giảm đau Tây y, nên tuyến thượng thận sẽ bị suy. Do đó việc giảm đau rất khó khăn. Ngoài ra còn bị suy gan, suy thận…

Vì vậy Thủy dùng Thập Toàn Đại Bổ gia giảm. Bỏ Kỳ, thay Nhục Quế bằng Quế Chi. Gia Sinh Đỗ Trọng, Ngưu Tất. Mục đích để Kiện Tỳ, bổ Khí Huyết, nhằm nâng đỡ cơ thể.

Sau uống 1 tháng, chi gọi cho người thân báo lại cho Thủy rằng: “Tháng thứ 2 này mà không đỡ đau thì ngừng thuốc”. Thủy thấy rất áp lực, dù đã giải thích cho chị ngay từ đầu. Xưa nay toàn thày thuốc ra y lệnh, giờ Bn lại ra y lệnh.

Thủy điện cho chị, hỏi thăm bệnh, được biết: Tiểu đêm giảm còn 1 lần (có hôm không đi), đi ngoài cũng đỡ, nhưng chưa thành khuôn, thỉnh thoảng có ngày bị té ra toàn nước, cơ thể ấm hơn chút, sức khỏe thấy khá hơn chút, nhưng đau không giảm tí nào.

Tôi dặn thuốc ĐY chỉ giảm đau được rất ít, nhưng dần dần sẽ khỏi. Ngoài ra tuyến thượng thận đã suy nên dù chị uống thuốc giảm đau Tây y cũng ít hiệu quả. Đi ngoài té ra nước là bị ngộ độc thực phẩm, khuyên chị nên mua hàng tươi, sống ngoài chợ, không nên tham rẻ mua hàng quá hạn, ôi thiu...

Thủy trăn trở, nếu dùng Ngô Công (con Rết) thì tốt, nhưng 2 con là 120 ngàn, lại toàn loại vớ vẩn. Toàn Yết (bọ cạp sa mạc) cũng đắt. Rồi gia giảm như sau: thêm Khương Hoạt 3g; Độc Hoạt 3g; Dây Đau Xương 12g; Giấm Huyền Hồ Sách 12g; Câu Kỷ Tử 16g; Giấm Hương Phụ 12g; Bỏ Quế Chi thay bằng Nhục Quế 5g.

Còn 6 ngày nữa hết thuốc, qua chị điện lấy tiếp, tâm trạng có vẻ hồ hởi. Tôi hỏi về triệu chứng để gia giảm cho nhanh đỡ khỏi. Chị nói phân tạm ổn (chưa thành khuôn hẳn), thỉnh thoảng có ngày đi té ra toàn nước và có khoảng 1 ngày mặt to như giữ nước, người hơi nóng. Dặn chị chọn thực phẩm an toàn ngoài chợ, đừng ham rẻ, vì rẻ đều là hư hỏng, quá hạn, ôi thiu. Và thuốc không giữ nước, bởi đã có thuốc Lợi Tiểu sẵn trong đó rồi (trọng, ngưu, thược, linh, truật).

• Lời bàn: bệnh đã rất lâu, cơ thể đã suy kiệt, còn thêm suy gan (hội chứng ruột kích thích), suy thượng thận… Thì việc bồi bổ cơ thể rất cần thiết, người bệnh tuân thủ chỉ định, tuân thủ theo phương pháp trị liệu của thày thuốc thì tốt, việc đốt cháy giai đoạn sẽ làm chậm việc phục hồi gan, thận và sức khỏe. Bởi các cụ dạy “Nhân cường thì tật nhược” sức khỏe tăng thì bệnh sẽ tự giảm. Phụ nữ thường kiêng cữ tốt, nhược điểm sợ béo, ăn ít nên phục hồi sẽ chậm chạm. Bài trên tuy có giảm được đau, nhưng cũng chỉ rất ít = 1/5 thuốc giảm đau đường uống của Tây y, nhưng cũng đủ thỏa lòng Bn. Sao không dùng Độc Hoạt Tang Ký Sinh Thang? Do Bn bị rối loạn tiêu hóa, nếu dùng cay nóng nhiều sẽ nặng thêm chứng ruột kích. Dùng Khương, Độc cũng chỉ chiều lòng Bn mà thôi.

Bắc Kạn 23/5/2026
Vũ Thủy

Send a message to learn more

CHỮA VIÊM KHỚP DẠNG THẤP MÃNBn nam 48 tuổi, liên hệ cắt thuốc chữa bệnh đau buốt 2 khớp gối. Hỏi có sưng không? Bn nói h...
16/05/2026

CHỮA VIÊM KHỚP DẠNG THẤP MÃN

Bn nam 48 tuổi, liên hệ cắt thuốc chữa bệnh đau buốt 2 khớp gối. Hỏi có sưng không? Bn nói hồi nhỏ có bị Thấp khớp, sưng tấy đỏ 2 khớp gối. Hiện tại đau cứng 2 bả vai, nâng cánh tay lên khó, đau 2 khớp cổ tay, đau nhức và buốt 2 đầu gối.

Tôi bảo em bị Thiếu máu rất nặng rồi, cơ thể đã suy kiệt (suy nhược nặng). Bởi nếu khớp nhỏ đau, giống như Hạ nguồn kênh, rạch, mương máng thiếu nước.
Khớp lớn đau, giống như ở Thượng nguồn mà còn khô hạn, thì tất tần tật đều khô hạn.

Trao đổi qua đt cho rõ ràng, thì em cũng không biết mình mắc viêm đa khớp dạng thấp. Khi hỏi em ăn những món gì thì bị đau, em nói: măng, thịt trâu, cá mè… Vậy là em bị viêm đa khớp dạng thấp từ lúc nhỏ, đến nay cũng 39 năm rồi.

Điểm chung của những người bị VKDT từ 15 năm trở lên:
- Đau nhức các khớp đối xứng thường xuyên.
- Do dùng nhiều thuốc Kháng Viêm, Giảm Đau nên thường bị Viêm sung huyết, phù nề dạ dày; Trào ngược dạ dày thực quản. Cũng có trường hợp bị loét nhưng ít.
- Rối loạn tiêu hóa: dùng nhiều thuốc Tây nên hệ tiêu hóa bị tổn thương, dẫn đến rối loạn tiêu hóa, nặng hơn thì bị ruột kích thích hoặc co thắt đại tràng.
- Tay chân lạnh: tất cả những người bị VKDT mãn tính, đều bị cơ thể lạnh, bụng lạnh, tay chân lạnh. Nên khi chữa ta cần Ôn Trung Trừ Hàn và dùng thêm thuốc Bổ Thận Tráng Dương để tăng hiệu lực làm ấm cơ thể, ấm chân tay. Phương pháp này Thủy gọi là “Vầng Mặt Trời (Dương) chiếu tan băng giá, mây mù”.
- Mất ngủ: cơ thể bị suy nhược lâu ngày, dẫn đến thiếu máu, tim và não đều thiếu máu, nên dẫn đến mất ngủ.
- Chuột rút: tất cả các trường hợp bị VKDT mãn tính đều bị thoái hóa xương khớp, cột sống do thiếu canxi, dẫn đến chuột rút. Nặng hơn sẽ đau mỏi các cơ khi vận động: đứng lên ngồi xuống thấy đau cơ đùi; Cúi gập người hơi gồng cơ bụng cũng bị chuột rút cơ bụng; Nhai nhiều cũng bị mỏi cơ hàm, đôi khi còn bị chuột rút cơ hàm… Triệu chứng này thường bị trên 95% các thày thuốc bỏ qua, cho là bệnh thuộc xương khớp, nên trị mãi không khỏi. Nặng quá sẽ dẫn đến yếu liệt, nằm 1 chỗ, dù cho tiêm, truyền canxi cũng ít hiệu quả.

- Nhạy cảm: VKD mãn tính rất nhạy cảm với thời tiết, với thức ăn, thay đổi thời tiết sẽ biết trước từ 1-3 hôm; Ăn thứ kỵ là đau ngay.
- Suy tuyến thượng thận: VKDT mãn tính đều bị suy tuyến thượng thận do dùng thuốc giảm đau dạng nội tiết. Gây khó khăn tong giảm đau bằng thuốc Đông Y, bệnh nhân thấy hiệu quả giảm đau rất chậm sau từng tháng. Cũng do giá thuốc ngày càng cao, thày thuốc không dám dùng thuốc giảm đau cao cấp như: Ngô Công: 60k/1 con khô, chỉ là loại bét; Hổ mang: 70k/10g khô…
- Teo cơ, cứng khớp: với người không làm nông nghiệp thì dù bị hơn 20 năm, cũng chưa bị teo cơ, cứng khớp. Với người làm nông nghiệp phải lội ruộng, bùn, ao, thì sẽ bị teo cơ chân, cứng khớp gối…

• Biện chứng luận trị:
- Phân tích Vấn Chẩn có những triệu chứng như trên, ta có: Âm, Lý, Hư Hàn. Thể Phong Hàn Thấp. Ta dùng: Khu Phong, Trừ Thấp, Trục Hàn, Bổ Khí Huyết, Bổ Dương.
- Dùng bài “Độc Hoạt Tang Ký Sinh” gia giảm: Gia Khương Hoạt 12g; Nhục Thung Dung: 16g. Dùng Diêm Đỗ Trọng (tẩm nước muối nhạt sao) để tăng hiệu lực Bổ Dương.

• Lưu ý: Viêm khớp dạng thấp mãn tính dùng thuốc Nam sẽ không hiệu quả. Cần dùng thuốc Bắc, các bạn đồng nghiệp có thể thay thế 1 số vị thuốc Nam tương đương để hạ giá thành. Hoặc dùng liệu lượng thấp. Như Tế Tân và Phòng phong loại 1 giá khoảng 2,5 triệu/1kg; Đảng sâm loại 2 sau bào chế cũng 1 triệu/1kg; Tàm Khương Hoạt cũng 2 triệu/1kg…

Bắc Kạn 16/5/2026
Vũ Thủy

14/05/2026

CHỮA THIẾU MÁU KÈM BỆNH TUYẾN GIÁP

Thiếu máu có rất nhiều nguyên nhân gây nên. Trong đó thiếu máu trong các bệnh tuyến Giáp thuộc loại quái đản, gây ức chế cho thày thuốc, nản lòng bệnh nhân.

Người thiếu máu do nguyên nhân tuyến Giáp như: Suy Giáp, Cường Giáp, U Giáp và Viêm Giáp. Trong đó Viêm Giáp là loại bệnh tự miễn, khó chữa nhất (tương tự như bệnh Viêm Đa Khớp Dang Thấp, Hen suyễn, Vẩy Nến, Lupus…).

Người bệnh chuyển biến rất chậm, mỗi tháng chỉ đỡ mệt mỏi khoảng 10-20%. Đặc biệt khi dùng Nhân Sâm, Nhung Hươu cũng cho tác dụng rất ít. Nên cần kiên trì điều trị mới thành công. Lúc Bn thấy khỏe thì thiếu máu đã đỡ, bệnh tuyến Giáp cũng tương đối ổn định. Khoảng 4 năm trở lại đây gặp rất nhiều.

Việc dùng thuốc cũng cần chọn lựa, thì mới tác dụng. Người bị thiếu máu kèm bệnh tuyến giáp cần kiêng cữ:
- Các loại quả cà: do chứa salomin gây kích hoạt khối bướu giáp.
- Các sản phẩm có chứa i ốt: mấy chục năm trước bướu cổ do thiếu i-ốt là loại Bướu Khí (giống quả bóng bay). Do dùng quá nhiều i-ốt và thức ăn độc hại (động vật ăn tăng trọng, rau củ quả trà phun thuốc kích thích tăng trưởng, thuốc sâu, chất bảo quản, ô nhiễm môi trường…) nên bị rối loạn tuyến giáp. Cần loại bỏ muối và bột canh chứa i-ốt. Ngày nay do thừa i-ốt nên bướu là Dạng Thịt, Dạng Dịch, Nhân Cứng.
- Rau mầm, giá đỗ (đậu): nên kiêng.
- Các sản phẩm Đông Dược, Thực phẩm chức năng có chứa nội tiết tố estrogen…
- Không ăn các loại thịt chứa hạch bạch huyết: các loại thịt cổ, lòng dồi dùng mỡ lòng nhiều hạch BH, phao câu gia cầm.
- Người bị viêm giáp, cường giáp, u giáp, suy giáp nên kiêng ăn cay, nóng: tỏi, ớt, tiêu, sa tế, mù tạt, mắc khén, hạt dổi, mỳ tôm, phở gói, thịt quay, chiên (rán), nướng.
- Người bị suy giáp, u giáp thì ăn được gừng, sả. Cường giáp, viêm giáp kiêng cả gừng, sả.
- Hạn chế ăn các động vật nuôi có chứa estrogen: sữa bò, lươn, ếch…

Hôm nay nhận được phản hồi từ Bn bị thiếu máu do bệnh Cường Giáp. Chị uống thuốc Tây khoảng 10 năm rồi, uống được 3 năm thì bệnh ổn định không uống nữa. Sau đó tái phát bệnh và dùng thuốc tiếp đến nay.

Các triệu chứng thiếu máu nặng như: hoa mắt, chóng mặt, váng đầu, đau đầu trước trán gờ mày (xoang), đau kéo sang 2 bên thái dương và 2 bên mang tai (màng tang). Mệt mỏi, thiếu sức, ăn ngủ kém, phân lỏng sệt, ngày đi vài lần, sụt cân. Đau mỏi cổ gáy, tê 2 tay, đau ngang thắt lưng nhiều nhất, đau 2 khớp gối, Huyết áp cao, nhịp tim nhanh…

Sau 1 tháng dùng thuốc Kiện Tỳ, Bổ Huyết: đi ngoài đỡ được 60%. Các triệu chứng khác cải thiện khá khoảng 20%m có dấu hiệu tăng cân. Đêm thì dễ đi vào giấc ngủ hơn, trưa không ngủ được. Bệnh nhân rất phấn khởi.

Bn ở miền Nam, ra BK cưới cháu, anh trai chị chơi khá thân với Thủy (cũng làm thày Pháp, nên thông Nho, lý, số. Trước có khai thác, bào chế Đông dược), đến đặt Tam Thất Bắc để làm quà biếu. Anh dẫn đến nhờ kiểm tra và cắt thuốc nếu cần, qua Tứ Chẩn biết triệu chứng như trên mô tả.

Cắt bài thuốc: “Sinh Hóa Thang gia giảm” như Thủy đã giới thiệu ở bài viết “Thiếu máu và bổ máu 1”.

Bỏ Gừng, Cam Thảo. Giảm Xuyên Khung còn 3g. Gia Bạch Truật 16g; Bạch Linh 12g; chế Hà Thủ Ô 6g.

Uống kèm bột Tam Thất Bắc, mỗi lần 1-2 thìa cà-phê, thuốc uống 3-4 lần/ngày, Tam Thất uống 1-2 lần trong ngày. Kết quả đạt như trên.
Nhân lúc đang viết chuỗi bài chuyên đề thiếu máu, cùng dịp Bn phản hồi, nên chia sẻ về ứng dụng Sinh Hóa trong thực tiễn lâm sàng.

Bắc Kạn 11/5/2026
Vũ Thủy

12/05/2026

THIẾU MÁU và BỔ MÁU (4)
Chuyên đề thiếu máu thông thường

I. Thiếu máu nặng, thiếu máu ở phụ nữ tuổi trung niên:
Thường có các triệu chứng:
- Da trắng bủng, nhợt nhạt.
- Thở ngắn, làm nặng hoặc đi bộ vài trăm mét là mỏi chân, thở rốc và ngáp nhiều (thiếu ô xy tim, não – tức thiếu máu nặng).
- Khi bước vào giấc ngủ hay bị giật mình (sụt chân bờ ruộng).
- Làm hay mỏi tay: vặn vít nở chặt thì mỏi tay, đổi tay liên tục.
- Tê mỏi tay chân (do thiếu máu), tay chân như không có lực.
- Ăn kém, hay đầy bụng, đầy hơi, ăn lạ đi ngoài, ngủ kém, hay mơ ác mộng, hay quên…

II. Bài thuốc: Quy Tỳ Thang

1. Nhân Sâm/Đảng Sâm: 12g
2. Chích Hoàng Kỳ: 12g
3. Đương Quy: 12g
4. Bạch Truật sao: 12g
5. Phục Thần: 12g
6. Chế Viễn Chí: 8g
7. Hắc Táo Nhân: 10g
8. Mộc Hương: 6g
9. Long Nhãn: 12g
10. Sinh khương: 12g
11. Đại/Hồng Táo: 3 quả
12. Cam Thảo: 3g
• Cách dùng: sắc uống.
• Tác dụng: Bổ Khí Huyết, Kiện Tỳ, Ninh Tâm, An Thần.
• Chủ trị: chữa thiếu máu khá nặng ở phụ nữ đã sinh 2 con trở lên, cũng dùng cho phụ nữ tuổi trung niên và cao niên. Hoa mắt chóng mặt, hay quên, hồi hộp, mệt ngực, nặng ngực, mất ngủ, đau mỏi cổ gáy, tê mỏi chân tay, đi xe máy lâu tê rần 2 tay, lúc nào cũng cảm thấy thiếu sinh lực, ngủ hay giật mình, mơ ác mộng, cơ thể gày yếu, hoặc béo bệu, chỉ thích nằm, nói hay bị hụt hơi, ăn uống kém, hay đầy bụng, đầy hơi… Trường hợp thiếu máu do thiếu sắt, thì uống bài này hoặc bài Bát Trân Thang rất nhanh khỏi, thường khoảng 10-20 ngày.

• Gia giảm:
- Bụng lạnh, đầy hơi, đầy bụng gia: Nhục Quế 3g; Sả 12g.
- Đau bụng kinh gia: Hương Phụ 12g.
- Mất ngủ nhiều gia Lạc Tiên 8g.
- Đau mỏi cổ gáy, đau thắt lưng gia Quế Chi 10g.

• Giải thích:
- Người bị thiếu máu đều bị rối loạn nhịp tim, người thiếu máu nặng thì nhịp tim rối loạn nặng và nhiều hơn. Lúc hồi hộp căng thẳng thì tim đập mạnh (trống ngực) nhịp vọt cao. Lúc yên tĩnh thì nhịp tim chậm lại.
- Nhân Sâm đại Bổ Nguyên Khí (nguồn của sự sống, sinh lực), Bổ Phế Khí (tăng dung tích phổi, tăng trao đổi chất khí-tức lấy được nhiều o xy). Làm cho cơ thể thấy khỏe ngay.
- Đảng Sâm: Bổ Tỳ Khí, trước đây Đảng Sâm còn rẻ, có thể thay cho Nhân Sâm vốn đắt đỏ. Ngày nay Đảng Sâm loại tốt (loại 2) cũng gần 1 triệu/1kg, bào chế xong, trừ hao hụt, xấu hỏng cũng trên 1 triệu/1kg. Vậy thì dùng Nhân Sâm tốt hơn.
- Chích Hoàng Kỳ (trước đây là tẩm mật ong nước, sao, nhưng giờ đắt đỏ, thường tẩm đường hoặc mật mía sao) Bổ Khí, giúp thúc đẩy Tỳ nuôi dưỡng Huyết (Khí là Soái của Huyết). Cũng để Ích Vệ Cố Biểu (tham gia bảo vệ cơ thể trước tác nhân gây bệnh bên ngoài, như Tà Khí Lục Dâm - 6 thứ tà khi độc hại: Phong, Hàn, Thử, Thấp, Táo, Hỏa).
- Đương Quy Bổ Huyết, Hoạt Huyết.
- Bạch Truật Bổ Tỳ Khí (Kiện Tỳ).
- Phục Thần dưỡng Tâm An Thần.
- Viễn Chí đi vào các kinh Tâm, Phế, Thận: tăng cường ý chí (Thận Tàng Chí-Ngũ Tạng Sở Tàng), An Thần Định Trí (Tâm Tàng Thần), vào Phế để Chỉ Khái, Tiêu Đàm (ngừng ho, hết đờm). Chức năng trong bài là dẫn máu lên não (Tâm Chủ Thần Minh).
- Táo Nhân sao hơi đen, tác dụng An Thần dễ ngủ, chữa mất ngủ. Có 2 loại Táo Nhân: Toan Táo Nhân (rất đắt khoảng 700k/1kg) và Lý Táo Nhân (bằng ½ Toan). Thị trường còn loại Nam Táo Nhân từ hạt me, không nên dùng.
- Mộc Hương Hành Khí, chống đầy hơi, đầy bụng.
- Long Nhãn Bổ Tỳ, An Thần.
- Sinh Khương tác dụng dẫn thuốc vào Phế, để thúc đẩy Khí Hậu Thiên, giúp Sinh Thận Thủy cường tráng và đẩy thuốc ra tới Bì Phu (da) mà bảo vệ chống Phòng Hàn. Người thiếu máu thường có triệu chứng cơ thể lạnh, bụng lạnh, chân tay lạn và sợ lạnh, Sinh Khương dùng lượng ít đủ để Tán nhẹ Phong Hàn ra khỏi cơ thể, lại bị Hoàng Kỳ trấn giữ, không cho thoát nhiều nên vừa ấm cơ thể lại đuổi được Phong Hàn Tà.
- Đại Táo hoặc Hồng Táo vừa để điều hòa các vị thuốc, lại bổ dưỡng Tỳ, Phế, Thận…
- Cam Thảo Chích thì bổ dưỡng và ấm cơ thể, nếu dùng sống lại điều hòa vị thuốc và giảm niệu, giúp Tỳ vận hóa thông suốt.

• Lưu ý:
- Không dùng cho người bị u xơ tử cung, u tuyến giáp.
- Không dùng cho các trường hợp chảy máu. Vì Viễn Chí có độ phá huyết cao, thêm Gừng tăng nhiệt độ cơ thể càng tăng độ giãn mạch, tăng độ thẩm thấu qua mạch máu, gây xuất huyết nặng hơn. Táo và cam thảo ngọt làm tăng nhiệt cơ thể, thúc đẩy xuất huyết nặng hơn. Bạch Truật có tác dụng chống kết tập tiểu cầu (dù sao cháy đen vẫn còn tác dụng nhẹ) nên làm trầm trọng hơn bệnh xuất huyết.
- Một số trường hợp đi ngoài ra máu nhẹ, do trĩ nội độ 1 xuất huyết, không cần uống thuốc, kiêng cay nóng, rượu bia thì sau 1-3 ngày cũng tực khỏi. Tình cờ uống Quy Tỳ lại cho là cầm máu, thật là lầm lẫn. Nếu xuất huyết ồ ạt (tiêu ra máu nhiều) thì uống vào sẽ tăng chảy máu.
- Xin nói thêm: ĐY có quan điểm là Tỳ Hư không thống được huyết, nhiếp được huyết dẫn đến xuất huyết, nhưng nhóm thuốc này lại là Bạch Cập, Ngẫu Tiết… để thu liễm chỉ huyết, chứ không phải Quy Tỳ. Nếu dùng Quy Tỳ cho bé hay chảy máu cam (mũi) sẽ nhanh tái phát xuất huyết và nặng hơn.

Bắc Kạn 11/5/2026
Vũ Thủy

10/05/2026

NGŨ CHẨN

Đông Y (ĐY) có Tứ Chẩn: Vọng, Văn, Vấn, Thiết. ĐY hiện đại có thêm 1 chẩn nữa là Chẩn Cận Lâm Sàng.

Chẩn Cận Lâm Sàng thường gồm:
1. Chỉ số đo Huyết áp/Nhịp tim;
2. Số đo Nhiệt độ cơ thể;
3. Xét nghiệm Sinh Hóa máu (ALT, AST, GGT, creatinin, ure, AU, Gluco, cholesteron, triglycerid…).
4. Huyết học;
5. X-Q, MRI;
6. Siêu âm, nôi soi…

Trong đó:
- Huyết học cũng quan trọng khi chữa bệnh về thiếu máu nặng, thiếu máu mãn tính, ác tính.
- Chụp, Siêu âm, điện tâm-não đồ, nội soi… và kết luận của Bs đã cho kết quả rồi, đỡ phải lần mò.
Nhưng những thứ trên kho giúp người thày thuốc ĐY phân biệt được thể bệnh.
- Còn 1, 2, 3 là quan trọng nhất, có thể thay Tứ Chẩn để phân loại thể bệnh.

Hôm nay thật là tiếc, có 1 trường hợp xét nghiệm Sinh Hóa, cho kết quả rất nặng. Nhưng do là xét nghiệm từ tháng 6/2025 (năm ngoái) nên Thủy đã không chụp lại, để các học viên và đồng nghiệp tường lãm. Thủy yêu cầu Bn xét nghiệm mới nhất.

Dù dùng Tứ Chẩn hay Ngũ Chẩn, thì khi gặp Bn nặng, ta dễ dàng nhận biết. Bệnh nhẹ sẽ khó nhận biết. Xin giới thiệu để học viên mới và đồng nghiệp tham khảo:

Bn gút mãn tính, có các xét nghiệm sinh hóa (khoảng):
- ALT: 60
- AST: 260
- GGT: 170
- Clucose: 4.
- Triglycerid: 2.8

• Thủy chẩn đoán:
- Bị viêm gan mãn tính, suy gan mãn, ngộ độc gan mãn tính gây hội chứng ruột kích thích (đi ỉa ngày nhiều lần).
- Ăn ½ bát (chén) cơm/bữa. Không kiêng cữ trong ăn uống (rượu thịt…). sẽ có Huyết áp thấp hoặc lúc thấp lúc cao.
- Chân tay lạnh và dương sự yếu, nghỉ hưu nhiều năm rồi.
- Chuột rút do thiếu máu nặng (do trong máu có canxi, kali, magie… nên gọi là thiếu máu). Bn cũng đang bổ sung canxi tổng hợp nhiều năm, nhưng ít cải thiện, yêu cầu stop canxi tổng hợp để không tăng gánh nặng cho thận (sỏi thận) và ít tác dụng.

- Phân tích: bị hội chứng ruột kích, thì hệ tiêu hóa đã không còn hấp thu được dinh dưỡng, nên dù ăn ngon cũng không hấp thu vào cơ thể được, lâu ngày dẫn đến thiếu máu trầm trọng, huyết áp sẽ tụt, chân tay sẽ lạnh, chuột sẽ rút, sinh trào ngược dạ dày thực quản và nóng rát thượng vị… Nếu dùng Diệp Hạ Châu… để xử lý gan, thì bệnh ruột kích càng thêm nặng. Xơi tỏi, ớt, tiêu càng thêm trầm trọng té ra toàn nước, ăn chua càng thêm lỏng nát, dùng chát (Bòn Bọt…) thì vít ngay, nhưng bụng căng đầy khó chịu, vài hôm Ộc ra như tháo cống… Yêu cầu kiêng cữ theo chỉ định.

• Kết luận: Thể Lý Hư Hàn. Vì vừa bị gan, gút, lẫn ruột kích thích, lại không kiêng rượu thịt, nên bệnh chỉ có ngày 1 nặng thêm, vì vậy đã khẳng định như trên. Bởi khi Tỳ, Thận, Can đã Hư Yếu, không (tương) Sinh được, dẫn đến Ngũ Tạng đều Hư Suy.

• Chẩn mạch: sau khi đọc bệnh chứng để Bn xác nhận xong, tiến hành chẩn mạch, do hôm qua Bn uống rượu nhiều, nay vẫn còn dư âm, mạch đã thay đổi, đập rất mạnh. Nên chỉ bắt 1 bộ Tả Thốn, Trầm Nhược Vô Lực: khẳng định thiếu máu cơ tim, hồi hộp, rối loạn nhịp tim và thiếu máu não.

• Yêu cầu về ăn uống bình thường trong 3 ngày, rồi tiến hành xét nghiệm sinh hóa những thứ trên, rồi mới cắt thuốc.

Bắc Kạn 10/5/2026
Vũ Thủy

09/05/2026

THIẾU MÁU và BỔ MÁU (3)
Chuyên đề thiếu máu thông thường

I. Thiếu máu ở phụ nữ tuổi sinh đẻ:
Thường có các triệu chứng:
- Da trắng bủng, nhợt nhạt.
- Thở ngắn, làm nặng hoặc đi bộ vài trăm mét là mỏi chân, thở rốc và ngáp nhiều (thiếu ô xy tim, não – tức thiếu máu nặng).
- Khi bước vào giấc ngủ hay bị giật mình (sụt chân bờ ruộng).
- Làm hay mỏi tay, vặn vít nở chặt thì mỏi tay, đổi tay liên tục.
- Đau mỏi lưng, nhất là đến chu kỳ kinh.
- Đau bụng kinh, kinh ít.
- Chân tay lạnh.
- Tê mỏi tay chân (do thiếu máu), tay chân như không có lực…

II. Bài thuốc: Bát Trân Thang gia giảm

1. Nhân Sâm/Đảng Sâm: 12g
2. Bạch Linh: 12g
3. Bạch Truật sao: 12g
4. Xuyên Khung: 6g
5. Đương Quy: 12g
6. Thục Địa: 16g
7. Bạch Thược: 10g
8. Can Khương: 5g
9. Sinh khương: 12g
10. Đại/Hồng Táo: 3 quả
11. Sinh Cam Thảo: 3g
• Cách dùng: sắc uống.
• Tác dụng: Song Bổ Khí Huyết.
• Chủ trị: chữa thiếu máu khá nặng ở phụ nữ đã sinh 2 con trở lên, nhất là sinh liên tiếp khi cơ thể chưa kịp hồi phục. Hoa mắt chóng mặt, hay quên, hồi hộp, mệt ngực, nặng ngực, đau mỏi cổ gáy, đau thắt lưng nhất là đến chu kỳ kinh, tê mỏi chân tay, chân tay lạnh, đi xe máy lâu tê rần 2 tay, lúc nào cũng cảm thấy thiếu sinh lực, ngủ hay giật mình, mơ ác mộng, cơ thể gày yếu, hoặc béo bệu, chỉ thích nằm, nói hay bị hụt hơi, cáu gắt bộc phát…

• Gia giảm:
- Bụng lạnh, đầy hơi, đầy bụng gia: Nhục Quế 3g; Sả 12g.
- Đau bụng kinh gia: Hương Phụ 12g.
- Mất ngủ gia Hắc Táo Nhân 10g; Lạc Tiên 8g.
- Đau mỏi cổ gáy, đau thắt lưng gia Quế Chi 10g.

• Giải thích:
- Bát Trân Thang gồm 2 bài hợp lại: Tứ Quân Tử Thang để Bổ Khí Kiện Tỳ. Tứ Vật Thang để Bổ Huyết. Toàn bài để song bổ Khí Huyết. Người bị lạnh nửa người bên trái hoặc bên phải uống rất có hiệu quả. Có thể ngăn ngừa đột quỵ gây liệt nửa người hoặc liệt dây thần kinh số 7 (liệt mặt)…
- Người thiếu máu thường có huyết áp thấp, cơ thể lạnh, nên gia thêm Can Khương, Sinh Khương để làm ấm cơ thể, nên thuốc sẽ có tác dụng nhanh hơn bài nguyên gốc.
- Khi cơ thể thiếu máu thì mệt mỏi và lạnh chân tay, hay quên... bởi khi thiếu máu thì máu khổng thể chảy đến nơi xa, gây lạnh chân tay và thiếu máu não. Khi não thiếu máu thì rối loạn tất cả. Tại sao đắp thuốc lại đỡ đau lưng? Tại sao mùa đông lạnh 2 bàn tay xoa vào nhau thì thấy ấm? Đó là máu dồn về nơi đó nhiều nên ta thấy đỡ đau, ấm tay. Vậy thì làm cho cơ thể đủ máu, thì toàn cơ thể ấm áp, hết đau và tươi trẻ vậy. Như thửa ruộng khô cằn vì nắng hạn, cây cỏ khô héo, được những cơn mưa rào tưới đẫm, ruộng đất phì nhiêu, cây cỏ xanh tốt, chỉ đơn giản vậy thôi.
- Dĩ nhiên bài thuốc dùng lâu sẽ cho Tóc-Da-Nội tiết đẹp, tràn trề, còn gọi là chống lão hóa.

• Lưu ý:
- Không dùng cho người bị u xơ tử cung, u tuyến giáp.

Bắc Kạn 09/5/2026
Vũ Thủy

07/05/2026

THIẾU MÁU và BỔ MÁU (2)
Chuyên đề thiếu máu thông thường

I. Thiếu máu nhẹ, thiếu máu do thiếu sắt:
Người bị thiếu máu do thiếu sắt thường có các triệu chứng:
- Da vàng, nhưng nước tiểu không vàng.
- Không sốt.
- Khi bước vào giấc ngủ hay bị giật mình (sụt chân bờ ruộng).
- Mỏi 2 khớp gối, nhất là trẻ em.

II. Bài thuốc:
Bài 1: Tứ Vật Thang

1. Xuyên Khung: 6g
2. Đương Quy: 12g
3. Thục Địa: 10g
4. Bạch Thược: 6g
• Cách dùng: sắc uống
• Tác dụng: Bổ Huyết
• Chủ trị: chữa thiếu máu nhẹ, thiếu máu vàng da (do thiếu sắt), đau mỏi xương khớp, đau bụng kinh, xơ gan… Kèm táo bón. Người bệnh vẫn ăn uống tốt, chân tay không bị lạnh. Lượng kinh ít, mỗi lần đến chu kỳ thì sưng đau vú…
• Gia giảm:
- Bụng lạnh đầy gia: Can Khương (gừng khô): 6g; Sinh Khương (gừng tươi): 12g; Sa Nhân: 12g.
- Thống kinh (đau bụng kinh) gia: Hương Phụ chế: 12g; Sa Nhân: 12g; Bạch Truật: 12g; Can Khương: 6g; Sinh Khương: 12g; Sinh Cam Thảo: 5g. Bội (tăng) Xuyên Khung lên 12g, Bạch Thược 12g.
- Viêm đa khớp dạng thấp mãn tính gây thiếu máu (chưa teo cơ cứng khớp) gia: Bạch Truật sao 12g; Can Khương 6g; Nhục Quế 3g; Bạch Linh 12g; Sinh Khương 16g; Bội (tăng) Xuyên Khung 15g; Thục Địa 20-30g; Bạch Thược 16g. Bài tuy đơn giản nhưng khá hiệu quả với giai đoạn không sưng nóng đỏ đau, các khớp lạnh, sưng hoặc không sưng nề. Giai đoạn mới bị 2-3 năm rất hiệu quả, nhưng bị trên 10 năm sẽ bị suy tuyến thượng thận giảm đau sẽ chậm, nhưng kiên trì sẽ đạt kết quả tốt.
• Giải thích:
- Xuyên Khung có tác dụng Hành Khí, Hoạt Huyết, nên giảm đau tốt, nhưng người thiếu máu thì hoạt huyết mạnh sẽ thấy chơi với, chếnh choáng sau khi uống 20 phút rồi hết. Bởi máu thiếu sẽ không tuần hành được. Vì vậy dùng lượng ít để Hoạt huyết nhẹ.
- Đương Quy: là vị thuốc chính để Bổ Huyết, cũng Hoạt huyết nhẹ, lại giảm đau bụng kinh rất tốt, có thể chữa tất cả các chứng bệnh của phụ nữ như: Kinh-Đới-Thai-Sản, Não-Khớp-Tóc-Da-Nội Tiết… nên được người xưa suy tôn là “Thánh dược của phụ nữ”. Lưu ý: phụ nữ có thai nên dùng thận trọng, do có tính hoạt huyết. Thường dùng trong bài thuốc Dưỡng thai, nhưng chỉ dùng Đầu Quy (Quy Thân) và sao vàng cho hết dầu để tránh nhuận, hoạt. Không phải thày thuốc có kinh nghiệm, thì không dùng khi phụ nữ có thai.
- Thục Địa: Bổ Thận Âm, để Sinh Can Huyết (Ngũ Hành Tương Sinh). Dùng Thục nấu với Gừng, Sa Nhân và Rượu sẽ không bị đầy bụng (nên trệ), giờ thuốc đắt, nên nhiều thày sẽ nấu với nước, nên sẽ bị đầy bụng. Khí dùng giảm liều hoặc gia thêm Sa Nhân 6-12g; gừng tươi 12g, gừng khô 5g để chuyển hóa Thục Địa.
- Bạch Thược: vị chua nên nhũ Can, lại thu liễm mồ hôi, giảm đau bụng kinh, đau dạ dày, đại tràng, đau mỏi cơ-xương-khớp… Làm mềm phân, chữa táo bón nhẹ.
- Bài thuốc được xây dựng trên Học Thuyết Ngũ Hành Tương Sinh: Thục địa sắc đen dưỡng Thận Thủy, để Sinh Can Mộc. Đương quy Bổ Huyết nên vào Can, Tâm, vị ngọt lại vào Tỳ, vị cay và sắc trắng vào Phế. Bạch thược ngu Can, sắc trắng vào Phế để nhuận Phế mà chỉ (dừng, cầm) được ho. Xuyên Khung vị cay mãnh liệt đi vào Phế, sau ngọt đi vào Tỳ, tính Hoạt Huyết vào Tâm (thúc đẩy tuần hoàn), Tỳ (Tỳ Thống Huyết, Nhiếp Huyết), mùi thơm thăng lên, lan tỏa khắp châu thân, đặc biệt lên não, do vậy mà chữa các bệnh thuộc Tâm, Can, Tỳ, Phế, Tiểu trường, Đại Trường, Đởm, Vị (biểu lý với tạng)… Ngũ Hành cứ thể luận chuyển Tương Sinh. Vì vậy người có phân hơi Táo, mà thiếu máu, dùng lâu sẽ đạt: Đẹp Da, Dài Tóc, Nội Tiết.
• Lưu ý:
- Bài thuốc dùng cho người thiếu máu nhẹ, đi ngoài phân cứng (táo bón), người đi ngoài phân lỏng không dùng.
- Người bị chân tay lạnh, cơ thể lạnh, bụng lạnh không dùng.
- Phụ nữ có các khối u nội tiết không dùng (U xơ tử cung, u giáp, bệnh tuyến giáp…).
- Phụ nữ có thai không dùng.
- Gia giảm như trên để có hiệu quả cao hơn.

Bài 2: Đương Quy Thược Dược Tán gia giảm

1. Đương Quy: 12g
2. Bạch Linh: 12g
3. Bạch Truật sao: 12g
4. Xuyên Khung: 6g
• Cách dùng: sắc uống.
• Tác dụng: Kiện Tỳ, Bổ Huyết, Hoạt Huyết.
• Chủ trị: chữa thiếu máu vàng da do thiếu sắt, thiếu máu hoa mắt chóng mặt, đầu váng, đau đầu, chân tay tê mỏi (thiếu máu), ăn uống kém hoặc ăn được mà không tăng cân, hay hồi hộp, khí hư đới hạ (viêm âm đạo, dịch màu trắng, hôi), viêm xoang kèm dịch, đau bụng kinh, cơ thể gày mòn không tăng cân… kèm đi ngoài phân lỏng, không thành khuôn.

• Gia giảm:
- Bụng lạnh, cơ thể lạnh, chân tay lạnh gia: Can Khương 5g; Sinh Khương 12g; Sa Nhân 10g.
- Đau bụng kinh gia: Bạch Thược 12g; Hương Phụ chế 12g; Sa Nhân 12g; Sinh Cam Thảo 5g.
- Đầu óc choáng váng gia: Trạch Tả 12g, Bạch Thược 10g.
- Mất ngủ gia Hắc Táo Nhân 10g.
- Thiếu máu nặng gia Kê Huyết Đằng 12g; Sinh Khương 12g; Sinh Cam Thảo 5g; Đại Táo hoặc Hồng Táo: 3-5 quả.

• Giải thích:
- Nguyên bài có Bạch Thược 12g, Trạch Tả 12g.
- Đương quy bổ huyết, hoạt huyết.
- Bạch linh thẩm thấp lợi niệu, ninh Tâm an thần, Kiện Tỳ.
- Bạch truật kiện Tỳ (Bổ Tỳ Khí), chỉ tả lỵ…
- Xuyên khung hoạt huyết (làm máu lưu thông), chỉ thống (giảm đau các loại).
- Bạch thược nhu Can, Dưỡng Huyết, giảm đau các loại, không dùng cho các trường hợp xuất huyết (chảy máu).
- Trạch tả lợi niệu.
• Lưu ý:
- Phụ nữ có thai không dùng.
- Người thiếu máu kèm táo bón không dùng.
- Dùng được cho người bị thiếu máu kèm u xơ tử cung, u giáp.

Bắc Kạn 07/5/2026
Vũ Thủy

Address

28 Nguyễn Văn Tố, Phường Bắc Kạn, Tỉnh Thái Nguyên
Bac Kan

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Bài Thuốc Gia Truyền Của Bắc Kạn posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Business

Send a message to Bài Thuốc Gia Truyền Của Bắc Kạn:

Share