Trung tâm Nội tiết và Chuyển hoá, Bệnh viện Bạch Mai

  • Home
  • Vietnam
  • Hanoi
  • Trung tâm Nội tiết và Chuyển hoá, Bệnh viện Bạch Mai

Trung tâm Nội tiết và Chuyển hoá, Bệnh viện Bạch Mai Ngày 12/8/2026, Bệnh viện Bạch Mai thành lập Trung tâm Nội tiết và Chuyển hoá trên cơ sở Khoa Nội tiết - Đái tháo đường.

Chào mừng bạn đến với fanpage chính thức của Trung tâm Nội tiết và Chuyển hoá bệnh viện Bạch Mai!

Ăn cơm nguội giúp làm chậm quá trình tăng đường huyết có đúng không ?Câu trả lời là đúng nhưng không nhiều và phải thận ...
22/07/2026

Ăn cơm nguội giúp làm chậm quá trình tăng đường huyết có đúng không ?

Câu trả lời là đúng nhưng không nhiều và phải thận trọng.

Tinh bột là một trong những dạng carbohydrate chính trong khẩu phần ăn và được phân thành ba nhóm dựa trên khả năng tiêu hóa, gồm: tinh bột tiêu hóa nhanh, tinh bột tiêu hóa chậm, và tinh bột kháng tiêu hóa (Resistant Starch – RS). Tinh bột kháng tiêu hóa có 5 loại, trong đó loại RS 3 là tinh bột thoái hóa (retrograded starch), hình thành sau khi cơm (khoai tây, mỳ pasta) được nấu chín rồi để nguội. Tinh bột kháng không bị tiêu hóa tại ruột non mà đi xuống đại tràng, nơi nó được lên men bởi hệ vi khuẩn đường ruột, đồng thời làm chậm quá trình hấp thu glucose. Nhờ đó, đường huyết sau ăn tăng chậm hơn và nhu cầu tiết insulin giảm.

Tuy nhiên, cần lưu ý những điểm sau:
• Chỉ là biện pháp hỗ trợ điều trị đái tháo đường, tác dụng có nhưng không nhiều
• Khi để thành cơm nguội, lượng tinh bột kháng tiêu hóa tăng không nhiều, thường chỉ chiếm vài phần trăm tổng lượng tinh bột, và nếu ăn nhiều cơm, đường huyết vẫn sẽ tăng đáng kể. Vì vậy, cơm nguội không phải là thực phẩm dành riêng cho người đái tháo đường và không thể thay thế việc kiểm soát khẩu phần.
• Ăn nhiều cơm nguội chứa tinh bột kháng tiêu hóa có thể gây rối loạn chức năng đại tràng với các triệu chứng như đầy bụng, chậm tiêu hoặc ỉa chảy.
• Để cơm thực sự là “nguội” và có nhiều tinh bột kháng tiêu hóa thì phải để ở nhiệt độ thấp 4-5 độ C, như vậy cần để trong tủ lạnh, trong khoảng 12-24 giờ. Cần hâm nóng lại trước khi ăn (việc hâm nóng không làm mất tác dụng kháng tiêu hóa)
• Chú ý để cơm nguội ở nhiệt độ phòng có thể có nguy cơ bị nhiễm khuẩn vì cơm là thực phẩm giàu carbohydrate, sẽ là môi trường dinh dưỡng rất thuận lợi cho vi khuẩn phát triển.

Cơm nguội không thể thay thế việc kiểm soát khẩu phần ăn với người mắc đái tháo đường, và tiềm ẩn nguy cơ bị nhiễm khuẩn thức ăn.

22/07/2026

Một lời cảm ơn – thật nhiều động lực

Sau khi được cấp cứu và điều trị kịp thời tại Bệnh viện Bạch Mai cơ sở Ninh Bình, chú bệnh nhân đã gửi một video cảm ơn tới bệnh viện và tập thể Khoa Nội tiết – Đái tháo đường.

Với người thầy thuốc, niềm vui lớn nhất không chỉ là nhìn thấy người bệnh vượt qua thời khắc nguy hiểm, sức khỏe dần ổn định, mà còn là được đón nhận những tình cảm chân thành như thế này.

Lời cảm ơn mộc mạc của chú là sự ghi nhận quý giá, đồng thời cũng là nguồn động viên để mỗi bác sĩ, điều dưỡng và nhân viên y tế tiếp tục tận tâm hơn trên hành trình chăm sóc, bảo vệ sức khỏe người bệnh.

Khoa Nội tiết – Đái tháo đường, Bệnh viện Bạch Mai xin trân trọng cảm ơn tình cảm và sự sẻ chia của chú cùng gia đình. Kính chúc chú luôn mạnh khỏe, bình an và có thật nhiều ngày vui bên những người thân yêu.




Điều trị rối loạn lipid máu ở BN đái tháo đường típ 2: Liệu có thể dùng thuốc Statin cách ngày được không ?Các thuốc Sta...
18/07/2026

Điều trị rối loạn lipid máu ở BN đái tháo đường típ 2: Liệu có thể dùng thuốc Statin cách ngày được không ?

Các thuốc Statin (như Rosuvastatin, Atorvastatin…) điều trị rối loạn lipid máu được chứng minh có tác dụng làm giảm các biến cố tim mạch ở BN ĐTĐ típ 2, và được khuyến cáo dùng cho tất cả các BN ĐTĐ típ 2 từ 40 – 75 tuổi. Tuy nhiên chúng tôi gặp không ít BN ĐTĐ đã “sáng tạo” ra kiểu uống thuốc Statin cách ngày khi thấy kết quả mỡ máu tương đối tốt. Vậy cách uống này có hợp lý không ?

1. Có không ít nghiên cứu cho thấy uống cách ngày, nhất là các statin có tác dụng kéo dài (t/2 > 10 giờ) như Rosuvastatin, Atorvastatin, Pitavastatin, có thể đạt kết quả LDL-C, HDL-C, Triglyceride tương đương với uống hàng ngày. Tuy nhiên phần lớn các nghiên cứu này đều có cỡ mẫu nhỏ < 100, thời gian điều trị ngắn (< 3 năm) và không có dữ liệu về nhồi máu cơ tim, đột quỵ hay tử vong tim mạch…

2. Giảm LDL-C chỉ là chỉ dấu (marker) trung gian, còn mục tiêu cuối cùng của điều trị statin ở BN ĐTĐ típ 2 là giảm biến cố tim mạch và tử vong. Hiện nay chưa có bằng chứng cho thấy dùng statin cách ngày mang lại hiệu quả giảm biến cố tim mạch tương đương với dùng hàng ngày ở BN ĐTĐ típ 2, ngay cả khi LDL-C đạt mức tương đương.
• Tất cả bằng chứng của guideline mới nhất đều dựa trên dùng statin hàng ngày. Không guideline nào khuyến cáo dùng statin cách ngày để phòng ngừa biến cố tim mạch nguyên phát hoặc thứ phát.

3. Vì sao không thể suy luận từ LDL-C sang giảm biến cố tim mạch?
• Các thử nghiệm lớn chứng minh lợi ích của statin như HPS, CARDS (ở BN ĐTĐ), ASCOT-LLA, TNT, PROVE-IT, JUPITER, IMPROVE-IT, FOURIER, ODYSSEY… đều sử dụng statin hàng ngày, không có nghiên cứu nào đánh giá dùng cách ngày như một chiến lược chuẩn.
• Do đó uống statin cách ngày có thể giảm LDL-C gần tương đương (đặc biệt rosuvastatin và atorvastatin) nhưng không có RCT đủ lớn chứng minh giảm nhồi máu cơ tim, đột quỵ hoặc tử vong tương đương.

4. Vì sao LDL-C giống nhau nhưng lợi ích tim mạch có thể khác?
4.1. Tác dụng của statin không chỉ là giảm LDL
• Statin còn có nhiều tác dụng ngoài lipid như cải thiện chức năng nội mô, giảm stress oxy hóa, giảm viêm, giảm CRP, ổn định mảng xơ vữa, giảm hoạt hóa tiểu cầu, cải thiện chức năng mạch máu. Một số tác dụng này có thể phụ thuộc vào việc có duy trì nồng độ thuốc ổn định và ức chế HMG-CoA reductase liên tục hay không.
• Nếu uống cách ngày, nồng độ thuốc dao động nhiều hơn. Mặc dù rosuvastatin có thời gian bán thải khoảng 19 giờ nhưng không phải lúc nào cũng duy trì được mức ức chế enzym giống như dùng hàng ngày.
4.2. LDL trung bình giống nhau nhưng dao động nhiều hơn: Hai BN có LDL trung bình đều 70 mg/dL có thể khác nhau. BN uống statin hàng ngày có thể LDL khá ổn định, còn người uống cách ngày thì LDL có thể tăng lên rồi giảm xuống giữa các lần uống. Hiện nay chưa rõ dao động LDL dài hạn có ảnh hưởng tới nguy cơ tim mạch hay không.

5. Các BN ĐTĐ típ 2 đều được xếp vào nhóm có nguy cơ tim mạch cao hoặc rất cao. Lợi ích của statin làm giảm các biến cố tim mạch đã được chứng minh rõ ràng trong các thử nghiệm CARDS, HPS, CTT Collaboration… nhờ dùng statin hàng ngày. Vì vậy, nếu BN dung nạp được statin thì không nên chuyển sang dùng cách ngày chỉ để tiện lợi hoặc giảm chi phí, vì điều đó có thể làm mất đi lợi ích đã được chứng minh.

6. Khi nào có thể cân nhắc dùng statin cách ngày?
Có thể cân nhắc trong các trường hợp đau cơ do statin, tăng nhẹ men cơ CK, không dung nạp liều chuẩn hay BN từ chối ngừng hoàn toàn statin. Khi đó dùng rosuvastatin hoặc atorvastatin cách ngày được xem là chiến lược dung hòa để vẫn đạt được một mức giảm LDL-C nhất định, thay vì ngừng statin hoàn toàn.

Ảnh: Sử dụng Statin hàng ngày được coi là 1 trong 4 trụ cột điều trị để làm phòng ngừa và làm giảm các biến chứng ở BN ĐTĐ típ 2 theo Khuyến cáo của Hội Đái tháo đường Hoa Kỳ năm 2026.

Hiểu sai về bệnh đái tháo đường: Nhỏ nhưng nguy hiểmNgày hôm nay, Khoa Nội tiết – ĐTĐ, BV Bạch Mai cơ sở Ninh Bình tổ ch...
15/07/2026

Hiểu sai về bệnh đái tháo đường: Nhỏ nhưng nguy hiểm

Ngày hôm nay, Khoa Nội tiết – ĐTĐ, BV Bạch Mai cơ sở Ninh Bình tổ chức buổi họp với người nhà các BN đang điều trị tại Khoa, chủ trì là BS Nguyễn Quang Bảy – Trưởng Khoa. Sau khi trao đổi, lắng nghe ý kiến của các bác người nhà BN, chúng tôi thấy mặc dù ĐTĐ là bệnh mạn tính nhưng nhiều bác đang sống cùng, và là người chăm sóc BN lại chưa hiểu nhiều về bệnh, thậm chí còn hiểu sai. Những điểm đã được chia sẻ với các bác người nhà BN ĐTĐ sáng nay như sau:

1. Đi khám bệnh ĐTĐ nhưng lại phát hiện ra một đống bệnh: Đa phần các bệnh “mới” thực chất là biến chứng do điều trị ĐTĐ không tốt như suy thận, suy tim, biến chứng thần kinh ngoại vi… Lưu ý các BN ĐTĐ cần được sàng lọc định kỳ (mỗi 3-12 tháng) các biến chứng bằng xét nghiệm nước tiểu (biến chứng thận), soi đáy mắt (biến chứng võng mạc), điện tim (bệnh mạch vành) … hay đơn giản chỉ là khám bàn chân để phát hiện biến chứng thần kinh ngoại vi.

2. Thấy vẫn khỏe nên không đi khám: Một BN bị ĐTĐ đã 10 năm, từ Tết đến nay thấy sụt gần 10kg nhưng không mệt nên không đi khám. Hôm qua đến Bệnh viện gần nhà được đo đường máu cao đến 31 mmol/L, có nguy cơ hôn mê nên phải nhập viện cấp cứu. Lưu ý là đường máu > 7,0 mmol/L được coi là có bệnh ĐTĐ, nhưng đường máu từ 7 – 11 mmol/L thì thường không có đường trong nước tiểu, nên BN sẽ không thấy khát, đái nhiều hay mệt nhiều nhưng mức đường máu này đủ cao để gây các biến chứng mạn tính ở BN ĐTĐ.

3. Có ít nhất 5 BN (chiếm 15% số BN nội trú) nhập viện do hạ đường máu nặng, có cả BN bị hôn mê. Lý do thì đủ kiểu, đang tiêm 3 mũi thì thấy bất tiện nên tự gộp thành 2 mũi, đang dùng thuốc uống nhẹ thì hết thuốc nên lôi thuốc cũ ra uống, hoặc phổ biến hơn là được Bác sĩ kê đơn thuốc thay đổi so với thuốc cũ nhưng không theo dõi đường máu.

4. Có máy đo đường máu mao mạch tại nhà nhưng không bao giờ đo vì ngại, hay sợ đau. Tôi có nói với các BN là nếu không đo và không biết đường máu của mình là bao nhiêu thì giống như đi đường đê ban đêm mà không có đèn đường, bạn sẽ rất dễ bị lao xuống chân đê hoặc thậm chí lao xuống sông sâu. Máy đo cá nhân là công cụ để bảo vệ mình chứ không phải là đồ trang sức.

5. Ăn trước khi tiêm insulin: 11h trưa mới là giờ tiêm insulin nhưng nhiều BN buồn mồm nên gần 11g đã ăn rồi. Insulin tiêm dưới da cần có thời gian hấp thu vào máu mới có tác dụng nên thường được chỉ định tiêm trước ăn 10 hoặc 30 phút tùy loại insulin, để đảm bảo khi đường máu tăng lên do ăn thì insulin cũng sẵn sàng có tác dụng. Ăn trước tiêm sẽ có nguy cơ cao bị tăng đường máu sau ăn và nguy hiểm hơn là hạ đường máu xa bữa ăn (khi insulin đạt định tác dụng mà đường máu đã đi xuống).

6. Một tâm lý hay thói quen không đúng của các BN ĐTĐ khi nằm trong bệnh viện là khi thấy “đói” thì nghĩ ngay là bị hạ đường máu và lôi đồ ăn ra chén. Lẽ ra họ phải gọi nhân viên y tế để được đo đường máu xem có đúng là bị thấp không và thấp đến mức nào. Nếu đúng là bị hạ đường máu (< 3,9 mmol/L) thì các Bác sĩ sẽ cho BN ăn hoặc uống nước đường, nhưng quan trọng hơn là chúng tôi sẽ phải điều chỉnh liều thuốc để tránh bị hạ đường máu lặp lại. Lưu ý là nguyên nhân gây đói ở BN ĐTĐ phổ biến là do ăn ít nên dạ dày rỗng hoặc có thể là do hạ đường máu giả vì cơ thể họ đã quen với mức đường máu rất cao nên khi được điều trị và đưa đường máu về mức bình thường, thậm chí vẫn cao hơn bình thường, thì não đã phát ra tín hiệu kêu cứu rồi.

𝐊𝐡𝐨𝐚 𝐍𝐨̣̂𝐢 𝐭𝐢𝐞̂́𝐭 - Đ𝐚́𝐢 𝐭𝐡𝐚́𝐨 đ𝐮̛𝐨̛̀𝐧𝐠, 𝐁𝐕 𝐁𝐚̣𝐜𝐡 𝐌𝐚𝐢 XIN THÔNG BÁO LỊCH LÀM VIỆC TỪ NGÀY 13/07-19/07/2026 TẠI HAI CƠ SỞ...
13/07/2026

𝐊𝐡𝐨𝐚 𝐍𝐨̣̂𝐢 𝐭𝐢𝐞̂́𝐭 - Đ𝐚́𝐢 𝐭𝐡𝐚́𝐨 đ𝐮̛𝐨̛̀𝐧𝐠, 𝐁𝐕 𝐁𝐚̣𝐜𝐡 𝐌𝐚𝐢 XIN THÔNG BÁO LỊCH LÀM VIỆC TỪ NGÀY 13/07-19/07/2026 TẠI HAI CƠ SỞ HÀ NỘI VÀ NINH BÌNH.
I. CƠ SỞ HÀ NỘI (ẢNH SỐ 1)
- Phòng khám theo yêu cầu làm việc từ 6h - 16h30 từ thứ Hai đến Chủ Nhật hàng tuần.
✅ 𝐵𝑁 𝑘ℎ𝑎́𝑚 𝑡ℎ𝑒𝑜 𝑦𝑒̂𝑢 𝑐𝑎̂̀𝑢 𝑠𝑒̃ đ𝑎̆𝑛𝑔 𝑘𝑦́ 𝑘ℎ𝑎́𝑚 𝑡𝑎̣𝑖 𝑘ℎ𝑢 𝑡𝑎́𝑖 𝑘ℎ𝑎́𝑚, 𝑡𝑎̂̀𝑛𝑔 4, 𝑡𝑜𝑎̀ 𝑛ℎ𝑎̀ 𝐾1 (𝑡𝑜𝑎̀ 𝑛ℎ𝑎̀ 9 𝑡𝑎̂̀𝑛𝑔) hoặc đặt lịch qua app Bạch Mai care, chọn phòng khám chuyên khoa Nội tiết CƠ SỞ HÀ NỘI.
🆘 𝑩𝑵 𝒄𝒐́ 𝒏𝒉𝒖 𝒄𝒂̂̀𝒖 𝒌𝒉𝒂́𝒎 𝒕𝒉𝒆𝒐 𝒚𝒆̂𝒖 𝒄𝒂̂̀𝒖 𝒙𝒊𝒏 𝒍𝒊𝒆̂𝒏 𝒉𝒆̣̂ 𝒕𝒓𝒖̛𝒐̛́𝒄 𝒒𝒖𝒂 𝒔𝒐̂́ đ𝒊𝒆̣̂𝒏 𝒕𝒉𝒐𝒂̣𝒊: 0914868080 (𝒈𝒊𝒐̛̀ 𝒍𝒊𝒆̂𝒏 𝒉𝒆̣̂ đ𝒂̆𝒏𝒈 𝒌𝒚́: 7𝒉30-16𝒉). Khi nhận được tin xác nhận, quý bệnh nhân có thể đến Bàn tiếp đón tại Phòng 418, tầng 4 nhà K1 để nhận phiếu khám và vào khám.
✅ 𝐵𝑁 𝑘ℎ𝑎́𝑚 𝑏𝑎̉𝑜 ℎ𝑖𝑒̂̉𝑚 𝑦 𝑡𝑒̂́ 𝑠𝑒̃ đ𝑎̆𝑛𝑔 𝑘𝑦́ 𝑡𝑎̣𝑖 𝑝ℎ𝑜̀𝑛𝑔 𝑘ℎ𝑎́𝑚 307- 𝑝ℎ𝑜̀𝑛𝑔 𝑘ℎ𝑎́𝑚 𝑐ℎ𝑢𝑦𝑒̂𝑛 𝑘ℎ𝑜𝑎 𝑁𝑜̣̂𝑖 𝑡𝑖𝑒̂́𝑡, 𝑘ℎ𝑜𝑎 𝐾ℎ𝑎́𝑚 𝑏𝑒̣̂𝑛ℎ (𝑡𝑜𝑎̀ 𝑛ℎ𝑎̀ 𝐾2).
II. CƠ SỞ NINH BÌNH (ẢNH SỐ 2)
- Phòng khám theo yêu cầu làm việc từ 6h30 đến 16h30 từ thứ Hai đến thứ SÁU hàng tuần.
- RIÊNG THỨ 7, CHỦ NHẬT: PHÒNG KHÁM YÊU CẦU LÀM VIỆC TỪ 7H ĐẾN 16H30.
✅ 𝐵𝑁 𝑘ℎ𝑎́𝑚 𝑡ℎ𝑒𝑜 𝑦𝑒̂𝑢 𝑐𝑎̂̀𝑢 𝑠𝑒̃ đ𝑎̆𝑛𝑔 𝑘𝑦́ 𝑘ℎ𝑎́𝑚 𝑡𝑎̣𝑖 TẦNG 2, khu 2A, BÀN QUẦY TIẾP ĐÓN hoặc đặt lịch qua app Bạch Mai care, chọn phòng khám chuyên khoa Nội tiết CƠ SỞ NINH BÌNH.
✅ 𝐵𝑁 𝑘ℎ𝑎́𝑚 𝑏𝑎̉𝑜 ℎ𝑖𝑒̂̉𝑚 𝑦 𝑡𝑒̂́ 𝑠𝑒̃ đ𝑎̆𝑛𝑔 𝑘𝑦́ 𝑡𝑎̣𝑖 tầng 1, KHU 1A- BÀN QUẦY TIẾP ĐÓN, đăng kí vào 𝑝ℎ𝑜̀𝑛𝑔 𝑘ℎ𝑎́𝑚 𝑐ℎ𝑢𝑦𝑒̂𝑛 𝑘ℎ𝑜𝑎 𝑁𝑜̣̂𝑖 𝑡𝑖𝑒̂́𝑡.
Xin trân trọng thông báo!





.

LDL-C CÀNG THẤP CÀNG TỐT? CẬP NHẬT QUAN TRỌNG TỪ HƯỚNG DẪN NĂM 2026Khi nhận kết quả xét nghiệm mỡ máu, nhiều người chỉ k...
13/07/2026

LDL-C CÀNG THẤP CÀNG TỐT? CẬP NHẬT QUAN TRỌNG TỪ HƯỚNG DẪN NĂM 2026

Khi nhận kết quả xét nghiệm mỡ máu, nhiều người chỉ kiểm tra xem LDL-C (thường được gọi là cholesterol “xấu”) có nằm trong khoảng tham chiếu của phòng xét nghiệm hay không. Nếu kết quả chưa bị đánh dấu tăng, người bệnh thường cho rằng mình hoàn toàn an toàn.

Tuy nhiên, trong phòng ngừa bệnh tim mạch, “nằm trong giới hạn bình thường” không đồng nghĩa với “đã đạt mục tiêu điều trị”. Một mức LDL-C có thể chấp nhận được đối với người trẻ, chưa có yếu tố nguy cơ nhưng lại còn quá cao đối với người đã từng nhồi máu cơ tim, đột quỵ, mắc bệnh động mạch ngoại biên, đái tháo đường có nhiều yếu tố nguy cơ hoặc bệnh thận mạn.

***

LDL là các hạt lipoprotein vận chuyển cholesterol trong máu. Khi số lượng LDL lưu hành quá nhiều và kéo dài, cholesterol có thể thâm nhập vào thành động mạch, thúc đẩy phản ứng viêm, hình thành và phát triển mảng xơ vữa. Mảng xơ vữa có thể tiến triển âm thầm trong nhiều năm trước khi gây nhồi máu cơ tim, đột quỵ hoặc tắc động mạch ngoại biên.

Bằng chứng từ các nghiên cứu di truyền, dịch tễ học và thử nghiệm lâm sàng đều thống nhất rằng LDL-C có vai trò nhân quả đối với bệnh tim mạch do xơ vữa. Phân tích của Cholesterol Treatment Trialists’ Collaboration cho thấy mỗi khi LDL-C giảm khoảng 1 mmol/L, tương đương 39 mg/dL, nguy cơ các biến cố mạch máu lớn giảm khoảng 20–22%.

Điều quan trọng không chỉ là LDL-C của một ngày xét nghiệm, mà là tổng mức phơi nhiễm với LDL-C trong suốt cuộc đời. Có thể hình dung nguy cơ xơ vữa giống như diện tích dưới đường cong: LDL-C càng cao và tồn tại càng lâu, gánh nặng cholesterol tích lũy trong thành mạch càng lớn. Vì vậy, phát hiện và kiểm soát LDL-C sớm thường mang lại lợi ích lớn hơn so với chờ đến khi bệnh tim mạch đã xuất hiện mới bắt đầu điều trị.

***

❓“LDL-C càng thấp càng tốt” có đúng không?

Đối với người có nguy cơ tim mạch cao hoặc đã mắc bệnh tim mạch do xơ vữa, câu trả lời nhìn chung là: LDL-C càng được giảm thấp và duy trì lâu thì nguy cơ biến cố tim mạch càng giảm.

Thử nghiệm IMPROVE-IT cho thấy ở người vừa trải qua hội chứng vành cấp, phối hợp ezetimibe với statin giúp LDL-C giảm thấp hơn và giảm thêm biến cố tim mạch so với chỉ sử dụng statin. FOURIER tiếp tục chứng minh rằng bổ sung evolocumab — một thuốc ức chế PCSK9 — vào điều trị statin làm LDL-C giảm khoảng 59%, xuống mức trung vị khoảng 30 mg/dL, đồng thời giảm biến cố tim mạch. ODYSSEY OUTCOMES cũng ghi nhận alirocumab làm giảm các biến cố thiếu máu cục bộ tái phát ở bệnh nhân sau hội chứng vành cấp đã được điều trị statin tích cực.

Trong phân tích định trước của FOURIER, lợi ích tim mạch vẫn tiếp tục được ghi nhận khi LDL-C đạt những mức rất thấp, xuống khoảng 8 mg/dL ở một số bệnh nhân, mà không xuất hiện mối liên quan rõ ràng giữa LDL-C rất thấp với các biến cố bất lợi nghiêm trọng trong thời gian theo dõi của nghiên cứu. Nghiên cứu EBBINGHAUS cũng không phát hiện sự suy giảm chức năng nhận thức do evolocumab so với giả dược. Dữ liệu theo dõi mở rộng của FOURIER trong thời gian dài hơn tiếp tục củng cố tính an toàn của việc duy trì LDL-C rất thấp ở những bệnh nhân nguy cơ cao được lựa chọn phù hợp.

Tuy nhiên, các kết quả trên không có nghĩa LDL-C gần bằng 0 là mục tiêu dành cho tất cả mọi người. Các thử nghiệm không được thiết kế để chứng minh rằng LDL-C bằng 0 là cần thiết hoặc tối ưu, và hiện không có hướng dẫn lớn nào khuyến cáo hạ LDL-C gần bằng 0 một cách thường quy.

Ước tính LDL-C huyết tương khoảng 12,5 mg/dL có thể đủ đáp ứng nhu cầu thu nhận cholesterol của các mô chỉ là một lập luận sinh lý học. Đây không phải là đích điều trị lâm sàng và không nên được sử dụng để tự điều chỉnh thuốc.

***

💡Hướng dẫn ACC/AHA 2026 thay đổi điều gì?

Hướng dẫn ACC/AHA/Multisociety năm 2026 đưa các mục tiêu LDL-C cụ thể trở lại trong thực hành, nhưng nhấn mạnh rằng mục tiêu phải được xác định theo nguy cơ tim mạch của từng người:

✅ Người chưa có bệnh tim mạch, thuộc nhóm nguy cơ ranh giới hoặc trung bình: mục tiêu LDL-C dưới 100 mg/dL, tương đương khoảng 2,6 mmol/L.
✅ Người có nguy cơ tim mạch cao: mục tiêu dưới 70 mg/dL, tương đương khoảng 1,8 mmol/L.
✅ Người đã mắc bệnh tim mạch do xơ vữa và thuộc nhóm nguy cơ rất cao: mục tiêu dưới 55 mg/dL, tương đương khoảng 1,4 mmol/L.

Hướng dẫn mới sử dụng mô hình PREVENT để ước tính nguy cơ tim mạch trong 10 năm, đồng thời xem xét nguy cơ dài hạn, các yếu tố làm tăng nguy cơ, tiền sử gia đình và bằng chứng xơ vữa dưới lâm sàng. Người có nguy cơ PREVENT từ 10% trở lên được xếp vào nhóm nguy cơ cao; nhóm nguy cơ ranh giới và trung bình tương ứng khoảng 3% đến dưới 10%.

Đối với người đã có bệnh tim mạch nhưng chưa thuộc nhóm nguy cơ rất cao, mục tiêu có thể khác. Do đó, không nên lấy duy nhất các mốc 55, 70 hay 100 mg/dL để áp dụng cho mọi bệnh nhân mà không đánh giá toàn bộ bối cảnh lâm sàng.

***

❓LDL-C dưới 40 mg/dL có phải là mục tiêu sau mọi biến cố tim mạch?

Không.

Hướng dẫn ESC/EAS trước đây cho rằng có thể cân nhắc mục tiêu LDL-C dưới 40 mg/dL ở một nhóm rất chọn lọc: người có nguy cơ rất cao và tiếp tục xuất hiện biến cố mạch máu lần thứ hai trong vòng hai năm, mặc dù đã được điều trị bằng liệu pháp hạ lipid tối đa có thể dung nạp. Đây không phải là mục tiêu thường quy cho bất kỳ ai vừa trải qua một biến cố tim mạch.

Trong hướng dẫn ACC/AHA 2026, đích được khuyến cáo rõ ràng cho dự phòng thứ phát ở nhóm nguy cơ rất cao là LDL-C dưới 55 mg/dL. Vì vậy, thông điệp phù hợp không phải là “mọi bệnh nhân tim mạch đều phải đưa LDL-C xuống dưới 40”, mà là người có nguy cơ càng cao càng cần điều trị sớm, mạnh và đạt mục tiêu thấp hơn.

***

❓LDL-C rất thấp có gây mất trí nhớ, tiểu đường hoặc tổn thương cơ không?

Các thử nghiệm với thuốc ức chế PCSK9 không ghi nhận gia tăng đáng kể biến cố thần kinh nhận thức hoặc đái tháo đường mới mắc khi LDL-C được hạ xuống rất thấp. Trong ODYSSEY OUTCOMES, tỷ lệ biến cố thần kinh nhận thức và đái tháo đường mới mắc không cao hơn nhóm giả dược. FOURIER và EBBINGHAUS cũng không cho thấy tín hiệu bất lợi rõ ràng về chức năng nhận thức.

Tuy nhiên, cần phân biệt giữa tác động của LDL-C thấp và tác dụng không mong muốn của từng loại thuốc. Statin liều cao có thể làm tăng nhẹ nguy cơ xuất hiện đái tháo đường ở một số người có sẵn nguy cơ chuyển hóa; statin cũng có thể liên quan đến triệu chứng cơ ở một tỷ lệ bệnh nhân. Thuốc ức chế PCSK9 có thể gây phản ứng tại vị trí tiêm. Bempedoic acid, ezetimibe và các thuốc khác cũng có hồ sơ an toàn riêng.

Do đó, không nên khẳng định rằng tất cả các phương pháp hạ LDL-C đều hoàn toàn không có tác dụng phụ. Điều các bằng chứng hiện nay cho thấy là: chưa có bằng chứng thuyết phục rằng bản thân LDL-C rất thấp gây tổn hại đến trí nhớ, cơ hoặc chuyển hóa ở những bệnh nhân được điều trị và theo dõi phù hợp.

***

💊 Phối hợp thuốc thay vì chỉ liên tục tăng liều statin

Statin vẫn là nền tảng của điều trị hạ lipid vì có bằng chứng mạnh về giảm nhồi máu cơ tim, đột quỵ và tử vong tim mạch. Tuy nhiên, hiệu quả tăng thêm khi chỉ tăng gấp đôi liều statin thường không lớn: trung bình LDL-C chỉ giảm thêm khoảng 5–7% so với trước khi tăng liều.

Trong khi đó, bổ sung ezetimibe có thể giảm thêm khoảng 18–25% LDL-C; các kháng thể đơn dòng ức chế PCSK9 có thể giảm thêm khoảng 45–64%. Vì vậy, khi người bệnh đã sử dụng statin ở liều tối đa có thể dung nạp mà chưa đạt mục tiêu, phối hợp thuốc thường hiệu quả hơn so với chỉ tiếp tục tăng liều statin.

Các lựa chọn hiện nay có thể bao gồm ezetimibe, bempedoic acid hoặc kháng thể đơn dòng ức chế PCSK9, tùy nguy cơ, mức LDL-C, khả năng dung nạp, bệnh kèm theo, chi phí và khả năng tiếp cận thuốc. Inclisiran có hiệu quả hạ LDL-C kéo dài, nhưng đến thời điểm hướng dẫn năm 2026 được công bố, kết quả cuối cùng từ các thử nghiệm đánh giá biến cố tim mạch vẫn đang được chờ đợi. Evinacumab chủ yếu được sử dụng trong tăng cholesterol máu gia đình đồng hợp tử, không phải thuốc thường quy cho mọi trường hợp rối loạn lipid máu.

***

‼️Không nên chỉ nhìn vào LDL-C

Hướng dẫn 2026 khuyến cáo nên xét nghiệm lipoprotein(a), hay Lp(a), ít nhất một lần trong tuổi trưởng thành. Lp(a) phần lớn được quyết định bởi di truyền và tương đối ổn định trong suốt cuộc đời. Mức Lp(a) từ 50 mg/dL hoặc 125 nmol/L trở lên được xem là một yếu tố làm tăng nguy cơ tim mạch.

Apolipoprotein B (apoB) cũng có thể giúp đánh giá chính xác hơn số lượng các hạt lipoprotein gây xơ vữa, đặc biệt ở người mắc đái tháo đường típ 2, béo phì, tăng triglyceride, bệnh tim mạch hoặc hội chứng tim–thận–chuyển hóa. Trong một số trường hợp, LDL-C đã đạt mục tiêu nhưng apoB vẫn cao, cho thấy nguy cơ tồn dư chưa được kiểm soát đầy đủ.

Chụp điểm vôi hóa động mạch vành cũng có thể được sử dụng trong những trường hợp chưa chắc chắn về chỉ định điều trị. Sự hiện diện của vôi hóa động mạch vành là bằng chứng cho thấy quá trình xơ vữa đã bắt đầu và có thể làm thay đổi mục tiêu cũng như cường độ điều trị.

***

KẾT LUẬN

“LDL-C càng thấp càng tốt” là một nguyên tắc có cơ sở khoa học, đặc biệt ở người có nguy cơ tim mạch cao và rất cao. Nhưng cách diễn đạt đầy đủ phải là:

LDL-C nên được giảm càng sớm, càng đủ và càng lâu càng tốt trong giới hạn phù hợp với nguy cơ, chỉ định và khả năng dung nạp của từng người bệnh.

Không có một con số LDL-C chung cho tất cả mọi người. Một kết quả được ghi là “bình thường” trên phiếu xét nghiệm vẫn có thể chưa đạt mục tiêu. Ngược lại, LDL-C rất thấp ở người đang được điều trị đúng chỉ định không phải là lý do để tự ý giảm hoặc ngừng thuốc.

Điều trị cũng không chỉ dựa vào thuốc. Chế độ ăn hợp lý, không hút thuốc, vận động thường xuyên, kiểm soát cân nặng, huyết áp và đường huyết vẫn là nền tảng của phòng ngừa tim mạch. Tuy nhiên, ở người nguy cơ cao, thay đổi lối sống thường không thể thay thế hoàn toàn liệu pháp hạ lipid.

Đừng chỉ hỏi: “LDL-C của tôi có bình thường không?”

Câu hỏi quan trọng hơn là: “Với nguy cơ tim mạch của tôi, LDL-C đã đủ thấp và được kiểm soát đủ sớm hay chưa?”

Tài liệu tham khảo chính

1. 2026 ACC/AHA/AACVPR/ABC/ACPM/ADA/AGS/APhA/ASPC/NLA/PCNA Guideline on the Management of Dyslipidemia. Circulation. 2026.
2. Borghi C, Bragagni A. There are those who would like zero LDL cholesterol. European Heart Journal Supplements. 2024;26(Suppl 1):i19–i22.
3. Cannon CP, et al. Ezetimibe Added to Statin Therapy after Acute Coronary Syndromes — IMPROVE-IT. N Engl J Med. 2015;372:2387–2397.
4. Sabatine MS, et al. Evolocumab and Clinical Outcomes in Patients with Cardiovascular Disease — FOURIER. N Engl J Med. 2017;376:1713–1722.
5. Giugliano RP, et al. Clinical efficacy and safety of achieving very low LDL-cholesterol concentrations with evolocumab. Lancet. 2017;390:1962–1971.
6. Giugliano RP, et al. Cognitive Function in a Randomized Trial of Evolocumab — EBBINGHAUS. N Engl J Med. 2017;377:633–643.
7. Schwartz GG, et al. Alirocumab and Cardiovascular Outcomes after Acute Coronary Syndrome — ODYSSEY OUTCOMES. N Engl J Med. 2018;379:2097–2107.
8. O’Donoghue ML, et al. Long-Term Evolocumab in Patients With Established Atherosclerotic Cardiovascular Disease — FOURIER-OLE. Circulation. 2022.
9. Mach F, et al. 2019 ESC/EAS Guidelines for the management of dyslipidaemias. Eur Heart J. 2020;41:111–188.

Ung thư tuyến giáp thể nhú nguy cơ thấp: Mổ hay đốt hay chỉ cần theo dõi sát ?1. Ung thư tuyến giáp nguy cơ thấp là gì v...
12/07/2026

Ung thư tuyến giáp thể nhú nguy cơ thấp: Mổ hay đốt hay chỉ cần theo dõi sát ?

1. Ung thư tuyến giáp nguy cơ thấp là gì và có cần điều trị không ?
Tỷ lệ mắc ung thư tuyến giáp ngày càng tăng chủ yếu là do siêu âm phát hiện nhiều hơn các khối u nhỏ, tiến triển chậm và có nguy cơ thấp nên tỷ lệ tử vong hầu như không thay đổi. Khái niệm Ung thư tuyến giáp nguy cơ thấp (LRTC) là các khối ung thư nhỏ, khu trú tại tuyến giáp, có nguy cơ tái phát thấp và tiên lượng rất tốt.
Trước đây, cắt toàn bộ tuyến giáp là phương pháp điều trị chính ung thư tuyến giáp. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, xu hướng điều trị đã chuyển sang các chiến lược bảo tồn hơn như theo dõi chủ động (Active Surveillance - AS) hoặc cắt thùy tuyến giáp do các phương pháp này vẫn đạt kết quả điều trị rất tốt nhưng giảm đáng kể tỷ lệ biến chứng so với cắt toàn bộ tuyến giáp.
Ngày nay đốt nhiệt (Thermal Ablation – TA, bao gồm đốt sóng cao tần, đốt vi sóng, đốt laser) đang nổi lên như một lựa chọn điều trị xâm lấn tối thiểu, vừa đảm bảo hiệu quả điều trị vừa bảo tồn chức năng tuyến giáp. Hướng dẫn của Hội Tuyến giáp Hoa Kỳ xem TA như là một lựa chọn điều trị thay thế ở những BN mắc ung thư tuyến giáp nguy cơ thấp, khi người bệnh từ chối phẫu thuật hoặc theo dõi chủ động.
Ngày 26/ 6/ 2026, Hội can thiệp tuyến giáp Bắc Mỹ (NASIT) mới đưa ra tuyên bố về điều trị TA chou ng thư tuyến giáp thể nhú nguy cơ thấp, đăng trên Endocrine Practice. Việc hiểu biết về nội dung bài này laf cực kỳ quan trọng để tránh tình trạng lạm dụng đốt các nhân tuyến giáp như ở nước ta hiện nay.

2. Lựa chọn BN ung thư tuyến giáp nguy cơ thấp để điều trị TA cần xem xét đồng thời đặc điểm người bệnh, đặc điểm khối u và năng lực của nhóm điều trị. Nói chung, những BN phù hợp để theo dõi sát (AS) cũng là những ứng viên phù hợp cho điều trị TA.
2.1. Đặc điểm người bệnh
• Nguy cơ tiến triển của ung thư biểu mô tuyến giáp thể nhú (PTC) nguy cơ thấp giảm dần theo tuổi. Vì vậy BN cao tuổi; BN có nhiều bệnh đồng mắc nặng là những đối tượng rất phù hợp để theo dõi chủ động, vì chiến lược này cho kết quả tương đương với can thiệp sớm. Theo dõi chủ động đặc biệt phù hợp với những BN (1) hiểu rõ nguy cơ của bệnh; (2) chấp nhận khả năng phải phẫu thuật trong tương lai nếu bệnh tiến triển; và (3) có thể tuân thủ theo dõi định kỳ.
• TA là một phương pháp có khả năng điều trị khỏi bệnh, có thể mang lại lợi ích cho BN ở mọi lứa tuổi đồng thời vẫn bảo tồn chức năng tuyến giáp. Tuy nhiên, việc theo dõi lâu dài vẫn rất quan trọng đối với tất cả BN, đặc biệt là người trẻ tuổi, vì họ có nguy cơ tái phát tích lũy cao hơn theo thời gian.
2.2. Đặc điểm khối u: Các ung thư tuyến giáp thích hợp để điều trị bằng TA phải là nguy cơ tiến triển và tái phát thấp.
• Những trường hợp lý tưởng để có thể theo dõi chủ động hoặc đốt nhiệt là (1) khối u nhỏ; (2) đơn ổ; (3) có ≥ 2 mm nhu mô tuyến giáp lành bao quanh; và (4) không có di căn hạch cổ. Các khối u > 1 cm cũng có thể được cân nhắc nếu nằm ở vị trí thuận lợi, nhưng hiện vẫn thiếu dữ liệu theo dõi dài hạn ở nhóm này.
• Cần đặc biệt thận trọng với các khối u nằm sát mặt sau tuyến giáp, thuộc "vùng nguy hiểm" (danger zone), rất gần với dây thần kinh thanh quản quặt ngược. Ngược lại, khối u áp sát mặt trước tuyến giáp không phải là chống chỉ định, vì tổn thương nhiệt giới hạn ở các cơ trước cổ hầu như không gây hậu quả đáng kể.
2.3. Đặc điểm mô bệnh học:
• Các ung thư biểu mô tuyến giáp thể nhú kích thước nhỏ là đối tượng phù hợp nhất để chọn theo dói chủ động hay TA.
• Mặc dù ung thư biểu mô tuyến giáp thể nang kích thước nhỏ cũng có thể diễn biến chậm, nhưng không thể chẩn đoán xác định bằng chọc hút kim nhỏ (FNA), vì phần lớn chỉ được báo cáo là "Nghi ngờ u thể nang" (Bethesda IV). Do u tuyến thể nang và ung thư thể nang chỉ có thể phân biệt sau phẫu thuật dựa trên đánh giá xâm lấn bao và mạch máu trên mô bệnh học, nên không khuyến cáo điều trị đốt nhiệt đối với các tổn thương dạng u thể nang.

3. Chống chỉ định
• Để thực hiện TA an toàn, khối u phải nằm ở vị trí cho phép đốt hoàn toàn cùng với một vành mô lành bao quanh. Vì vậy các chống chỉ định của đốt nhiệt bao gồm:
 vị trí khối u không thuận lợi;
 xâm lấn ra ngoài tuyến giáp;
 di căn hạch vùng;
 các dấu ấn phân tử nguy cơ cao
• Các khối u sát với khí quản trên diện rộng (góc tù) không thích hợp để đốt nhiệt, do nguy cơ xâm lấn khí quản và không thể tạo được diện đốt an toàn bao quanh khối u.
• Trước điều trị cần đánh giá kỹ tình trạng xâm lấn ngoài tuyến giáp (mất liên tục bao tuyến hoặc xâm lấn mô quanh tuyến trên siêu âm); hoặc di căn hạch cổ vì nó gợi ý bệnh có tính chất xâm lấn hơn và được xem là chống chỉ định của TA.
• Đối với các nhân giáp có kết quả tế bào học không xác định, việc xử trí có thể được hỗ trợ bởi xét nghiệm sinh học phân tử; Ở BN ung thư tuyến giáp, các dấu ấn phân tử nguy cơ cao như đột biến TERT promoter, đột biến TP53 đều liên quan khả năng xâm lấn cao nên là chống chỉ định của TA.

4. Sau đốt nhiệt, BN cần được theo dõi lâu dài và quản lý bởi nhóm đa chuyên khoa nhằm phát hiện sớm tổn thương tồn lưu, tái phát và xử trí kịp thời các biến chứng nếu có.

10 ĐIỀU NỔI BẬT VỀ BỆNH GAN LIÊN QUAN ĐẾN RƯỢU TỪ TỔNG QUAN MỚI NHẤT TRÊN JAMA 2026Một bài tổng quan mới đăng trên JAMA ...
09/07/2026

10 ĐIỀU NỔI BẬT VỀ BỆNH GAN LIÊN QUAN ĐẾN RƯỢU TỪ TỔNG QUAN MỚI NHẤT TRÊN JAMA 2026

Một bài tổng quan mới đăng trên JAMA năm 2026 đã cập nhật toàn diện về bệnh gan liên quan đến rượu: từ dịch tễ, cơ chế bệnh sinh, yếu tố nguy cơ, chẩn đoán đến điều trị. Đây không chỉ là vấn đề của chuyên ngành gan mật, mà còn liên quan rất chặt chẽ với béo phì, đái tháo đường típ 2, rối loạn chuyển hóa và nguy cơ tim mạch.

1. Bệnh gan do rượu đang trở thành gánh nặng y tế rất lớn.
Theo JAMA, bệnh gan liên quan đến rượu hiện là nguyên nhân hàng đầu gây bệnh tật và tử vong liên quan đến gan, đồng thời là chỉ định ghép gan phổ biến nhất tại châu Âu và Hoa Kỳ. Tại Hoa Kỳ, tử vong do bệnh gan liên quan đến rượu tăng gần gấp đôi, từ 6,7 ca/100.000 dân năm 1999 lên 12,5 ca/100.000 dân năm 2022.

2. Uống rượu không cần “quá nhiều” mới có thể gây bệnh gan.
Bài báo định nghĩa nguy cơ bệnh gan liên quan đến rượu khi sử dụng kéo dài trên 20 g ethanol/ngày ở nữ và trên 30 g ethanol/ngày ở nam. Một đơn vị đồ uống chuẩn chứa khoảng 14 g ethanol, tương đương khoảng 355 mL bia, 150 mL rượu vang hoặc 45 mL rượu mạnh. Tuy nhiên, JAMA cũng nhấn mạnh rằng không có một ngưỡng rượu nào được chứng minh là hoàn toàn an toàn cho gan, vì khả năng tổn thương gan còn phụ thuộc giới, tuổi, di truyền, bệnh nền chuyển hóa và bệnh gan đi kèm.

3. Bệnh gan do rượu là một phổ bệnh không chỉ có xơ gan.
Tổn thương gan có thể bắt đầu từ gan nhiễm mỡ có khả năng hồi phục, sau đó tiến triển thành viêm gan nhiễm mỡ, viêm gan do rượu, xơ hóa gan, xơ gan, tăng áp lực tĩnh mạch cửa, xơ gan mất bù và ung thư biểu mô tế bào gan. Điều quan trọng là giai đoạn đầu thường âm thầm, trong khi khi đã xuất hiện cổ trướng, xuất huyết tiêu hóa, vàng da hoặc bệnh não gan thì bệnh thường đã nặng.

4. Rượu và rối loạn chuyển hóa tạo thành áp lực kép lên lá gan.
Người có béo phì, đái tháo đường típ 2, hội chứng chuyển hóa, tăng huyết áp, rối loạn lipid máu nếu vẫn uống rượu sẽ có nguy cơ tiến triển bệnh gan cao hơn. Bài báo nhấn mạnh hơn 95% bệnh nhân bệnh gan liên quan đến rượu có ít nhất một yếu tố nguy cơ tim mạch – chuyển hóa. Vì vậy, ở bệnh nhân đái tháo đường hoặc béo phì có gan nhiễm mỡ, bác sĩ cần khai thác cả yếu tố rượu, tránh nhầm hoàn toàn sang “gan nhiễm mỡ do chuyển hóa”.

5. Rượu gây hại cho gan qua nhiều cơ chế cùng lúc.
Ethanol và acetaldehyde gây độc trực tiếp cho tế bào gan, tạo stress oxy hóa và phản ứng viêm. Rượu cũng làm rối loạn chuyển hóa lipid, giảm oxy hóa acid béo, khiến mỡ tích tụ trong tế bào gan. Đồng thời, rượu làm rối loạn hệ vi sinh đường ruột, tăng tính thấm ruột, khiến các sản phẩm vi khuẩn đi theo tĩnh mạch cửa về gan, kích hoạt viêm và xơ hóa. Nói cách khác, gan bị tấn công cùng lúc từ rượu – mỡ – viêm – ruột – chuyển hóa.

6. Phần lớn người bệnh không có triệu chứng ở giai đoạn sớm.
Khoảng 90% bệnh nhân bệnh gan liên quan đến rượu khi chưa có viêm gan do rượu hoặc xơ gan thường không có triệu chứng, hoặc chỉ có biểu hiện rất mơ hồ như mệt mỏi, ăn kém, men gan tăng nhẹ hoặc gan nhiễm mỡ trên siêu âm. Ngay cả xơ gan còn bù cũng có thể không biểu hiện rõ. Đây là lý do không nên chờ đến khi vàng da, bụng to, nôn ra máu hay lơ mơ mới đi khám.

7. Chẩn đoán hiện nay không chỉ dựa vào men gan.
JAMA khuyến nghị cần nghĩ đến bệnh gan liên quan đến rượu ở người có tiền sử uống rượu mức nguy hại, men gan bất thường kéo dài trên 6 tháng hoặc gan nhiễm mỡ trên hình ảnh học. Bệnh nhân cũng cần được đánh giá các nguyên nhân gan khác như viêm gan B, viêm gan C, bệnh gan tự miễn, bệnh gan di truyền… đặc biệt khi men gan tăng kéo dài hoặc tăng cao bất thường.

8. Cần khai thác rượu một cách có cấu trúc và không phán xét.
Bài báo nhấn mạnh việc hỏi về rượu cần được thực hiện khoa học, tôn trọng và không tạo cảm giác quy chụp. Các công cụ như AUDIT hoặc AUDIT-C giúp sàng lọc rối loạn sử dụng rượu. Một số dấu ấn sinh học như phosphatidylethanol trong máu hoặc ethyl glucuronide có thể hỗ trợ phát hiện việc sử dụng rượu gần đây, nhất là khi bệnh nhân khó nhớ chính xác hoặc ngại chia sẻ.

9. Đánh giá xơ hóa gan không xâm lấn là điểm then chốt.
Theo JAMA, mức độ xơ hóa gan là yếu tố dự báo mạnh nhất cho biến cố gan về sau. Xét nghiệm đơn giản như FIB-4 có thể được tính từ tuổi, AST, ALT và tiểu cầu. Nếu FIB-4 từ 1,3 trở lên, người bệnh nên được đánh giá bước hai bằng đo độ đàn hồi gan như FibroScan/VCTE hoặc các xét nghiệm chuyên sâu như ELF test. Nếu FIB-4 trên 2,67, hoặc kết quả gợi ý xơ hóa đáng kể, hoặc men gan bất thường kéo dài chưa rõ nguyên nhân, người bệnh nên được chuyển chuyên khoa gan mật.

10. Điều trị quan trọng nhất là ngừng rượu bền vững.
Không có thuốc bổ gan nào có thể thay thế việc ngừng rượu. JAMA nhấn mạnh mục tiêu điều trị trung tâm là ngừng rượu, kết hợp tư vấn tạo động lực, liệu pháp nhận thức – hành vi và thuốc hỗ trợ điều trị rối loạn sử dụng rượu khi phù hợp, chẳng hạn baclofen hoặc naltrexone trong các chỉ định chọn lọc. Với viêm gan do rượu nặng hoặc xơ gan mất bù, người bệnh cần được đánh giá chuyên sâu, thậm chí cân nhắc ghép gan trong một số trường hợp.

***

Bệnh gan liên quan đến rượu có thể âm thầm nhưng không hề đơn giản; có thể tiến triển nặng nhưng cũng có cơ hội hồi phục nếu phát hiện sớm và ngừng rượu kịp thời. Với người có đái tháo đường, béo phì, gan nhiễm mỡ, tăng triglyceride hoặc hội chứng chuyển hóa, việc đánh giá sử dụng rượu cần được xem là một phần trong chăm sóc sức khỏe gan – tim mạch – chuyển hóa, chứ không phải một câu hỏi mang tính phán xét.

Đừng đợi đến khi lá gan lên tiếng bằng vàng da, cổ trướng hay xuất huyết tiêu hóa. Hãy kiểm tra sớm, kiểm soát rối loạn chuyển hóa tốt và nghiêm túc nhìn lại việc sử dụng rượu — vì với bệnh gan liên quan đến rượu, ngừng đúng lúc có thể thay đổi tiên lượng của cả cuộc đời.

Nguồn: Krag A, Åberg F, Mellinger J, Lee BP, Israelsen M. Alcohol-Related Liver Disease: A Review. JAMA. Published online July 6, 2026.

Address

Hanoi
100000

Telephone

+84914868080

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Trung tâm Nội tiết và Chuyển hoá, Bệnh viện Bạch Mai posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Shortcuts

Share