Trung tâm Nội tiết và Chuyển hoá, Bệnh viện Bạch Mai

  • Home
  • Vietnam
  • Hanoi
  • Trung tâm Nội tiết và Chuyển hoá, Bệnh viện Bạch Mai
Call Directions

Trung tâm Nội tiết và Chuyển hoá, Bệnh viện Bạch Mai Ngày 12/8/2026, Bệnh viện Bạch Mai thành lập Trung tâm Nội tiết và Chuyển hoá trên cơ sở Khoa Nội tiết - Đái tháo đường.

Chào mừng bạn đến với fanpage chính thức của Trung tâm Nội tiết và Chuyển hoá bệnh viện Bạch Mai!

TRUNG TÂM NỘI TIẾT VÀ CHUYỂN HÓA, 𝐁𝐕 𝐁𝐚̣𝐜𝐡 𝐌𝐚𝐢 Xin thông báo lịch làm việc từ 28/09 -> 04/10/2026TẠI HAI CƠ SỞ HÀ NỘI VÀ...
27/09/2026

TRUNG TÂM NỘI TIẾT VÀ CHUYỂN HÓA, 𝐁𝐕 𝐁𝐚̣𝐜𝐡 𝐌𝐚𝐢
Xin thông báo lịch làm việc từ 28/09 -> 04/10/2026
TẠI HAI CƠ SỞ HÀ NỘI VÀ NINH BÌNH.

I. CƠ SỞ HÀ NỘI (ẢNH SỐ 1)
- Phòng khám theo yêu cầu làm việc từ 6h - 16h30 từ thứ Hai đến Chủ Nhật hàng tuần.

✅ 𝐵𝑁 𝑘ℎ𝑎́𝑚 𝑡ℎ𝑒𝑜 𝑦𝑒̂𝑢 𝑐𝑎̂̀𝑢 𝑠𝑒̃ đ𝑎̆𝑛𝑔 𝑘𝑦́ 𝑘ℎ𝑎́𝑚 𝑡𝑎̣𝑖 𝑘ℎ𝑢 𝑡𝑎́𝑖 𝑘ℎ𝑎́𝑚, 𝑡𝑎̂̀𝑛𝑔 4, 𝑡𝑜𝑎̀ 𝑛ℎ𝑎̀ 𝐾1 (𝑡𝑜𝑎̀ 𝑛ℎ𝑎̀ 9 𝑡𝑎̂̀𝑛𝑔) hoặc đặt lịch qua app Bạch Mai care, chọn phòng khám chuyên khoa Nội tiết CƠ SỞ HÀ NỘI.

🆘 𝑩𝑵 𝒄𝒐́ 𝒏𝒉𝒖 𝒄𝒂̂̀𝒖 𝒌𝒉𝒂́𝒎 𝒕𝒉𝒆𝒐 𝒚𝒆̂𝒖 𝒄𝒂̂̀𝒖 𝒙𝒊𝒏 𝒍𝒊𝒆̂𝒏 𝒉𝒆̣̂ 𝒕𝒓𝒖̛𝒐̛́𝒄 𝒒𝒖𝒂 𝒔𝒐̂́ đ𝒊𝒆̣̂𝒏 𝒕𝒉𝒐𝒂̣𝒊: 0914868080 (𝒈𝒊𝒐̛̀ 𝒍𝒊𝒆̂𝒏 𝒉𝒆̣̂ đ𝒂̆𝒏𝒈 𝒌𝒚́: 7𝒉30-16𝒉). Khi nhận được tin xác nhận, quý bệnh nhân có thể đến Bàn tiếp đón tại Phòng 418, tầng 4 nhà K1 để nhận phiếu khám và vào khám.

✅ 𝐵𝑁 𝑘ℎ𝑎́𝑚 𝑏𝑎̉𝑜 ℎ𝑖𝑒̂̉𝑚 𝑦 𝑡𝑒̂́ 𝑠𝑒̃ đ𝑎̆𝑛𝑔 𝑘𝑦́ 𝑡𝑎̣𝑖 𝑝ℎ𝑜̀𝑛𝑔 𝑘ℎ𝑎́𝑚 307- 𝑝ℎ𝑜̀𝑛𝑔 𝑘ℎ𝑎́𝑚 𝑐ℎ𝑢𝑦𝑒̂𝑛 𝑘ℎ𝑜𝑎 𝑁𝑜̣̂𝑖 𝑡𝑖𝑒̂́𝑡, 𝑘ℎ𝑜𝑎 𝐾ℎ𝑎́𝑚 𝑏𝑒̣̂𝑛ℎ (𝑡𝑜𝑎̀ 𝑛ℎ𝑎̀ 𝐾2).

II. CƠ SỞ NINH BÌNH (ẢNH SỐ 2)
- Phòng khám theo yêu cầu làm việc từ 6h30 đến 16h30 từ thứ Hai đến thứ sáu hàng tuần.

- RIÊNG THƯ 7, CHỦ NHẬT: PHÒNG KHÁM YÊU CẦU LÀM VIỆC TỪ 7H ĐẾN 16H30.

✅ 𝐵𝑁 𝑘ℎ𝑎́𝑚 𝑡ℎ𝑒𝑜 𝑦𝑒̂𝑢 𝑐𝑎̂̀𝑢 𝑠𝑒̃ đ𝑎̆𝑛𝑔 𝑘𝑦́ 𝑘ℎ𝑎́𝑚 𝑡𝑎̣𝑖 TẦNG 2, khu 2A, BÀN QUẦY TIẾP ĐÓN hoặc đặt lịch qua app Bạch Mai care, chọn phòng khám chuyên khoa Nội tiết CƠ SỞ NINH BÌNH.

✅ 𝐵𝑁 𝑘ℎ𝑎́𝑚 𝑏𝑎̉𝑜 ℎ𝑖𝑒̂̉𝑚 𝑦 𝑡𝑒̂́ 𝑠𝑒̃ đ𝑎̆𝑛𝑔 𝑘𝑦́ 𝑡𝑎̣𝑖 tầng 1, KHU 1A- BÀN QUẦY TIẾP ĐÓN, đăng kí vào 𝑝ℎ𝑜̀𝑛𝑔 𝑘ℎ𝑎́𝑚 𝑐ℎ𝑢𝑦𝑒̂𝑛 𝑘ℎ𝑜𝑎 𝑁𝑜̣̂𝑖 𝑡𝑖𝑒̂́𝑡.
Xin trân trọng thông báo!

Có những sự tận tâm, người bệnh còn nhớ rất lâu sau ngày rời viện: Đó là sự kiên nhẫn hướng dẫn lại từng thao tác tiêm k...
26/09/2026

Có những sự tận tâm, người bệnh còn nhớ rất lâu sau ngày rời viện: Đó là sự kiên nhẫn hướng dẫn lại từng thao tác tiêm khi đôi tay còn lúng túng, là tỉ mỉ chăm sóc một vết thương, là dành thêm thời gian lắng nghe điều người bệnh vẫn ngại hỏi.

Tại Trung tâm Nội tiết và Chuyển hoá, Bệnh viện Bạch Mai, những việc ấy được các điều dưỡng, bác sĩ thực hiện mỗi ngày, với mong muốn người bệnh có thể yên tâm hơn khi trở về nhà.
Bởi phía sau một bàn chân tổn thương là những bước đi mưu sinh;
phía sau nỗi lo bệnh tật là cả một gia đình.
Mỗi vết thương tiến triển tốt, mỗi lần người bệnh tự thực hiện đúng một thao tác thử đường máu đều mang lại niềm vui cho người chăm sóc.

Xin trân trọng những đồng nghiệp vẫn bền bỉ, tận tình bên từng giường bệnh; cảm ơn người bệnh và gia đình đã tin tưởng, đồng hành.

Được góp sức để ai đó trở về với những ngày bình thường của họ, đã là một hạnh phúc của nghề. ❤️

Một lần hướng dẫn lại cách tiêm insulin, một vết thương được theo dõi cẩn thận, một nỗi lo được lắng nghe trước ngày xuất viện… Tại Trung tâm Nội tiết và Chuyển hóa, Bệnh viện Bạch Mai, những việc tưởng như nhỏ bé ấy lại...

THEO DÕI BỆNH NHÂN UNG THƯ TUYẾN GIÁP THỂ NHÚ SAU PHẪU THUẬTUng thư tuyến giáp thể nhú là thể ung thư tuyến giáp phổ biế...
23/09/2026

THEO DÕI BỆNH NHÂN UNG THƯ TUYẾN GIÁP THỂ NHÚ SAU PHẪU THUẬT

Ung thư tuyến giáp thể nhú là thể ung thư tuyến giáp phổ biến nhất và cũng có tiên lượng tốt nhất. Tuy nhiên, nguy cơ tái phát tại chỗ/tại vùng hoặc tiến triển xa vẫn tồn tại. Guidelines của Hội Tuyến giáp Hoa Kỳ (ATA 2025) hướng dẫn việc điều trị và theo dõi sau mổ những BN này như sau:

1. Phân tầng nguy cơ tái phát sau phẫu thuật (cắt toàn bộ tuyến giáp hoặc cắt một thùy), chủ yếu dựa trên đặc điểm giải phẫu bệnh:
Nguy cơ thấp (< 10%): U nằm gọn trong tuyến giáp (T1-T2), không có xâm lấn (vi thể hoặc đại thể) ngoài tuyến giáp, không có di căn hạch hoặc chỉ có di căn vi thể hạch trung tâm, di căn ít hạch.
Nguy cơ trung bình - thấp (10 - 15%): U đa ổ, xâm lấn mạch máu hạn chế, hoặc xâm lấn vi thể ngoài tuyến giáp.
Nguy cơ trung bình - cao (16 - 30%): Có di căn hạch cổ bên rõ ràng trên lâm sàng, hoặc có nhiều yếu tố nguy cơ kết hợp.
Nguy cơ cao (> 30%): Xâm lấn đại thể ngoài tuyến giáp (T3b, T4), không lấy hết được khối u, đã có di căn xa (M1) hoặc di căn hạch diện rộng.

2. Điều trị sau phẫu thuật:
2.1. Điều trị bằng Iodine phóng xạ ((_^131)"I" / RAI):
Mục đích của việc dùng Iodine phóng xạ:
Hủy mô giáp còn sót lại, dù là lành hay ác tính, để thuận tiện cho việc theo dõi bằng chỉ điểm sinh học (Thyroglobulin).
Tiêu diệt tế bào ung thư nghi ngờ còn sót lại nhằm giảm nguy cơ tái phát.
Tiêu diệt u tồn dư hoặc di căn xa đã xác định.
Chỉ định theo mức độ nguy cơ:
Nhóm nguy cơ thấp: Không khuyến cáo sử dụng RAI quy chuẩn sau cắt toàn bộ tuyến giáp.
Nhóm nguy cơ trung bình: Cân nhắc điều trị hỗ trợ bằng RAI.
Nhóm nguy cơ cao & BN có di căn xa: Chỉ định bắt buộc điều trị RAI.
2.2. Liệu pháp hormone thay thế và ức chế TSH
Do TSH là yếu tố kích thích sự phát triển của tế bào ung thư tuyến giáp => việc điều trị Levothyroxine vừa để bù hormone tuyến giáp vừa để ức chế nồng độ TSH.
Mục tiêu TSH cần đạt:
Nhóm nguy cơ cao hoặc còn bệnh tồn dư: Duy trì TSH ở mức

KHI NGƯỜI BỆNH MỆT MỎI VÌ ĐÁI THÁO ĐƯỜNG: TIẾP CẬN GÁNH NẶNG CẢM XÚC THEO HƯỚNG DẪN EASD 2026Người bệnh có thể hiểu rõ c...
20/09/2026

KHI NGƯỜI BỆNH MỆT MỎI VÌ ĐÁI THÁO ĐƯỜNG: TIẾP CẬN GÁNH NẶNG CẢM XÚC THEO HƯỚNG DẪN EASD 2026

Người bệnh có thể hiểu rõ chế độ ăn, tuân thủ thuốc và thực hiện tốt các khuyến cáo tự quản lý nhưng vẫn kiệt sức vì phải liên tục suy nghĩ về đái tháo đường. Vấn đề này dễ bị bỏ sót nếu thăm khám chỉ tập trung vào HbA1c, đường huyết hoặc biến chứng thực thể.

“Diabetes distress” là gánh nặng cảm xúc và tâm lý do sống chung với đái tháo đường và thực hiện các yêu cầu tự quản lý hằng ngày. Biểu hiện có thể gồm lo lắng về biến chứng, sợ hạ đường huyết, thất vọng khi đường huyết chưa đạt mục tiêu, mệt mỏi vì phải theo dõi glucose và dùng thuốc, áp lực tài chính hoặc cảm giác bị phán xét.

Diabetes distress khác với trầm cảm, dù hai tình trạng có thể đồng thời xuất hiện và làm nặng lẫn nhau. HbA1c đạt mục tiêu không loại trừ gánh nặng cảm xúc; người bệnh kiểm soát chuyển hóa tốt vẫn có thể chịu căng thẳng đáng kể liên quan đến điều trị.

Ngày 15/9/2026, Diabetologia công bố hướng dẫn của Hiệp hội Nghiên cứu Đái tháo đường châu Âu (EASD) về đánh giá và xử trí gánh nặng cảm xúc ở người trưởng thành mắc đái tháo đường típ 1 hoặc típ 2.

Thông điệp cốt lõi là tích hợp đánh giá sức khỏe tâm lý vào chăm sóc đái tháo đường thường quy. Nhân viên y tế nên chủ động hỏi về cảm xúc trong các lần khám, sử dụng công cụ chuẩn hóa ít nhất mỗi năm một lần và đánh giá lại khi người bệnh gặp biến cố cuộc sống, thay đổi đáng kể phác đồ hoặc giảm khả năng tự quản lý.

Kết quả cần được ghi nhận, trao đổi với người bệnh và dùng để xây dựng kế hoạch hỗ trợ. Sàng lọc chỉ có ý nghĩa khi đi kèm khả năng tư vấn, can thiệp hoặc chuyển tuyến phù hợp.

Có thể bắt đầu bằng một câu hỏi mở, không phán xét:

“Gần đây, điều gì trong việc điều trị đái tháo đường khiến cô/chú cảm thấy khó khăn nhất?”

Các công cụ như Problem Areas in Diabetes (PAID) và Diabetes Distress Scale (DDS) giúp định lượng mức độ gánh nặng và xác định lĩnh vực cần ưu tiên, nhưng không thay thế khai thác tâm lý – xã hội và bối cảnh cá nhân.

Với DDS-17, điểm trung bình thường được diễn giải như sau:

* Dưới 2,0: ít hoặc không có gánh nặng đáng kể;
* Từ 2,0 đến dưới 3,0: gánh nặng mức trung bình;
* Từ 3,0 trở lên: gánh nặng mức cao.

Cần sử dụng đúng phiên bản và xem xét từng lĩnh vực, như gánh nặng cảm xúc, căng thẳng do chế độ điều trị, cảm giác thất bại trong tự quản lý hoặc khó khăn với nhân viên y tế. Các ngưỡng này chỉ có giá trị định hướng, không phải tiêu chuẩn chẩn đoán trầm cảm. Khi nghi ngờ trầm cảm, lo âu nặng hoặc nguy cơ tự sát, cần đánh giá chuyên biệt và chuyển tuyến.

EASD nhấn mạnh rằng can thiệp cần dựa trên kiểu đái tháo đường, nguyên nhân và mức độ gánh nặng, nguồn lực sẵn có và ưu tiên của người bệnh. Phần lớn khuyến cáo là khuyến cáo có điều kiện do bằng chứng còn không đồng nhất.

Nhóm người bệnh Can thiệp được đề cập
1. Đái tháo đường típ 1: Có thể cân nhắc can thiệp tâm lý, theo dõi glucose liên tục (CGM) hoặc hệ thống phân phối insulin tự động (AID), tùy nhu cầu, khả năng sử dụng và mục tiêu điều trị.
2. Đái tháo đường típ 2: Có thể cân nhắc can thiệp tâm lý, giáo dục tự quản lý hoặc phối hợp cả hai. Chưa đủ cơ sở khuyến cáo CGM hay hỗ trợ đồng đẳng đơn thuần nhằm giảm gánh nặng cảm xúc.

Điều này không phủ nhận lợi ích khác của CGM, AID hoặc hỗ trợ đồng đẳng, như cải thiện theo dõi glucose, giảm hạ đường huyết, hỗ trợ tự quản lý hoặc tăng kết nối xã hội. Chỉ định cần gắn với mục tiêu lâm sàng cụ thể; không nên mặc định rằng công nghệ hay một mô hình hỗ trợ sẽ làm giảm gánh nặng cảm xúc ở mọi người bệnh.

Cần diễn giải khuyến cáo cùng mức độ chắc chắn của bằng chứng. Tổng quan hệ thống bao gồm 248 thử nghiệm với 55.497 người tham gia, nhưng chất lượng bằng chứng phần lớn thấp hoặc rất thấp do nguy cơ sai lệch, tính không đồng nhất, khác biệt về nội dung và cường độ can thiệp cũng như công cụ đo lường.

Ở người mắc đái tháo đường típ 1, CGM cho thấy mức giảm gánh nặng cảm xúc nhỏ với độ chắc chắn trung bình. Với AID, phân tích gộp 5 thử nghiệm ghi nhận chênh lệch trung bình chuẩn hóa −0,15, khoảng tin cậy 95% từ −0,33 đến 0,02; xu hướng có lợi nhưng chưa đạt ý nghĩa thống kê.

Vì vậy, không nên khẳng định AID hoặc các công nghệ tự động chắc chắn làm giảm gánh nặng cảm xúc. Hiệu quả phụ thuộc vào khả năng sử dụng, chi phí, hỗ trợ chuyên môn, kỳ vọng và việc thiết bị thực sự giảm hay làm tăng gánh nặng tự quản lý. Tổng quan này cũng không đánh giá đầy đủ các kết cục như HbA1c, thời gian trong vùng mục tiêu, hạ đường huyết hoặc biến chứng mạch máu.

Trong tư vấn, nên cùng người bệnh xác định một vấn đề ưu tiên, một mục tiêu cụ thể và một bước thay đổi khả thi:

- Nếu lịch điều trị quá tải, rà soát lại lịch dùng thuốc, theo dõi glucose và vận động; chia nhỏ mục tiêu;
- Nếu sợ hạ đường huyết, tìm hiểu hoàn cảnh xảy ra, kiến thức, kỹ thuật dùng thuốc hoặc insulin và lập kế hoạch dự phòng;
- Nếu chi phí gây áp lực, trao đổi về lựa chọn điều trị, khả năng chi trả và nguồn hỗ trợ;
- Nếu người bệnh cảm thấy thất bại vì chỉ số chưa đạt, tránh ngôn ngữ quy kết và đánh giá các yếu tố sinh học, hành vi, xã hội và điều trị có thể điều chỉnh.

Gia đình có thể hỗ trợ chuẩn bị bữa ăn, vận động, đi khám hoặc nhận biết hạ đường huyết, nhưng không nên kiểm soát quá mức. Hãy hỏi trực tiếp người bệnh họ mong muốn được hỗ trợ như thế nào.

Mệt mỏi, lo lắng, tức giận hoặc bế tắc vì điều trị là những thông tin lâm sàng quan trọng, không phải điều cần che giấu.

Khi gánh nặng cảm xúc kéo dài, ảnh hưởng đến giấc ngủ, công việc, quan hệ xã hội hoặc khả năng tự quản lý; hoặc khi có dấu hiệu trầm cảm, lo âu, rối loạn ăn uống, sợ hạ đường huyết nghiêm trọng hay ý nghĩ tự sát, cần phối hợp với chuyên gia tâm lý lâm sàng, bác sĩ tâm thần hoặc nhóm chăm sóc sức khỏe tâm thần có kinh nghiệm về đái tháo đường.

Một câu hỏi về cảm xúc cũng xứng đáng có chỗ trong mỗi buổi khám đái tháo đường.

Trung tâm Nội tiết và Chuyển hoá – Bệnh viện Bạch Mai

Trung tâm Nội tiết và chuyển hoá, 𝐁𝐕 𝐁𝐚̣𝐜𝐡 𝐌𝐚𝐢 XIN THÔNG BÁO LỊCH LÀM VIỆC TỪ NGÀY 21/09 -> 27/09/2026TẠI HAI CƠ SỞ HÀ N...
20/09/2026

Trung tâm Nội tiết và chuyển hoá, 𝐁𝐕 𝐁𝐚̣𝐜𝐡 𝐌𝐚𝐢
XIN THÔNG BÁO LỊCH LÀM VIỆC TỪ NGÀY 21/09 -> 27/09/2026
TẠI HAI CƠ SỞ HÀ NỘI VÀ NINH BÌNH.

I. CƠ SỞ HÀ NỘI (ẢNH SỐ 1)
- Phòng khám theo yêu cầu làm việc từ 6h - 16h30 từ thứ Hai đến Chủ Nhật hàng tuần.

✅ 𝐵𝑁 𝑘ℎ𝑎́𝑚 𝑡ℎ𝑒𝑜 𝑦𝑒̂𝑢 𝑐𝑎̂̀𝑢 𝑠𝑒̃ đ𝑎̆𝑛𝑔 𝑘𝑦́ 𝑘ℎ𝑎́𝑚 𝑡𝑎̣𝑖 𝑘ℎ𝑢 𝑡𝑎́𝑖 𝑘ℎ𝑎́𝑚, 𝑡𝑎̂̀𝑛𝑔 4, 𝑡𝑜𝑎̀ 𝑛ℎ𝑎̀ 𝐾1 (𝑡𝑜𝑎̀ 𝑛ℎ𝑎̀ 9 𝑡𝑎̂̀𝑛𝑔) hoặc đặt lịch qua app Bạch Mai care, chọn phòng khám chuyên khoa Nội tiết CƠ SỞ HÀ NỘI.

🆘 𝑩𝑵 𝒄𝒐́ 𝒏𝒉𝒖 𝒄𝒂̂̀𝒖 𝒌𝒉𝒂́𝒎 𝒕𝒉𝒆𝒐 𝒚𝒆̂𝒖 𝒄𝒂̂̀𝒖 𝒙𝒊𝒏 𝒍𝒊𝒆̂𝒏 𝒉𝒆̣̂ 𝒕𝒓𝒖̛𝒐̛́𝒄 𝒒𝒖𝒂 𝒔𝒐̂́ đ𝒊𝒆̣̂𝒏 𝒕𝒉𝒐𝒂̣𝒊: 0914868080 (𝒈𝒊𝒐̛̀ 𝒍𝒊𝒆̂𝒏 𝒉𝒆̣̂ đ𝒂̆𝒏𝒈 𝒌𝒚́: 7𝒉30-16𝒉). Khi nhận được tin xác nhận, quý bệnh nhân có thể đến Bàn tiếp đón tại Phòng 418, tầng 4 nhà K1 để nhận phiếu khám và vào khám.

✅ 𝐵𝑁 𝑘ℎ𝑎́𝑚 𝑏𝑎̉𝑜 ℎ𝑖𝑒̂̉𝑚 𝑦 𝑡𝑒̂́ 𝑠𝑒̃ đ𝑎̆𝑛𝑔 𝑘𝑦́ 𝑡𝑎̣𝑖 𝑝ℎ𝑜̀𝑛𝑔 𝑘ℎ𝑎́𝑚 307- 𝑝ℎ𝑜̀𝑛𝑔 𝑘ℎ𝑎́𝑚 𝑐ℎ𝑢𝑦𝑒̂𝑛 𝑘ℎ𝑜𝑎 𝑁𝑜̣̂𝑖 𝑡𝑖𝑒̂́𝑡, 𝑘ℎ𝑜𝑎 𝐾ℎ𝑎́𝑚 𝑏𝑒̣̂𝑛ℎ (𝑡𝑜𝑎̀ 𝑛ℎ𝑎̀ 𝐾2).

II. CƠ SỞ NINH BÌNH (ẢNH SỐ 2)
- Phòng khám theo yêu cầu làm việc từ 6h30 đến 16h30 từ thứ Hai đến thứ sáu hàng tuần.

- RIÊNG THƯ 7, CHỦ NHẬT: PHÒNG KHÁM YÊU CẦU LÀM VIỆC TỪ 7H ĐẾN 16H30.

✅ 𝐵𝑁 𝑘ℎ𝑎́𝑚 𝑡ℎ𝑒𝑜 𝑦𝑒̂𝑢 𝑐𝑎̂̀𝑢 𝑠𝑒̃ đ𝑎̆𝑛𝑔 𝑘𝑦́ 𝑘ℎ𝑎́𝑚 𝑡𝑎̣𝑖 TẦNG 2, khu 2A, BÀN QUẦY TIẾP ĐÓN hoặc đặt lịch qua app Bạch Mai care, chọn phòng khám chuyên khoa Nội tiết CƠ SỞ NINH BÌNH.

✅ 𝐵𝑁 𝑘ℎ𝑎́𝑚 𝑏𝑎̉𝑜 ℎ𝑖𝑒̂̉𝑚 𝑦 𝑡𝑒̂́ 𝑠𝑒̃ đ𝑎̆𝑛𝑔 𝑘𝑦́ 𝑡𝑎̣𝑖 tầng 1, KHU 1A- BÀN QUẦY TIẾP ĐÓN, đăng kí vào 𝑝ℎ𝑜̀𝑛𝑔 𝑘ℎ𝑎́𝑚 𝑐ℎ𝑢𝑦𝑒̂𝑛 𝑘ℎ𝑜𝑎 𝑁𝑜̣̂𝑖 𝑡𝑖𝑒̂́𝑡.
Xin trân trọng thông báo!





.

ADA/EASD 2026: QUẢN LÝ ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TÍP 1 Ở NGƯỜI TRƯỞNG THÀNH ĐÃ BƯỚC SANG MỘT GIAI ĐOẠN MỚIQuản lý đái tháo đường tí...
19/09/2026

ADA/EASD 2026: QUẢN LÝ ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TÍP 1 Ở NGƯỜI TRƯỞNG THÀNH ĐÃ BƯỚC SANG MỘT GIAI ĐOẠN MỚI

Quản lý đái tháo đường típ 1 không còn chỉ xoay quanh câu hỏi: “Hôm nay người bệnh cần tiêm bao nhiêu đơn vị insulin?”

Ngày 16/9/2026, Hiệp hội Đái tháo đường Hoa Kỳ (ADA) và Hiệp hội Nghiên cứu Đái tháo đường châu Âu (EASD) đã công bố báo cáo đồng thuận cập nhật về quản lý đái tháo đường típ 1 ở người trưởng thành. So với phiên bản năm 2021, tài liệu mới mở rộng đáng kể phạm vi: từ chẩn đoán chính xác, giáo dục tự quản lý, dinh dưỡng, vận động, sức khỏe tâm lý, công nghệ điều trị cho đến béo phì, nguy cơ tim mạch, thai kỳ, điều trị nội trú và những liệu pháp có khả năng làm chậm tiến triển của bệnh.

Dưới đây là những điểm thực hành đáng chú ý nhất.

1. Đái tháo đường típ 1 ở người trưởng thành vẫn thường bị chẩn đoán nhầm

Đái tháo đường típ 1 có thể xuất hiện ở bất kỳ lứa tuổi nào. Báo cáo dẫn các dữ liệu cho thấy hơn 40% người mắc bệnh sau 30 tuổi ban đầu được điều trị như đái tháo đường típ 2. Nguy cơ chẩn đoán nhầm càng cao khi người bệnh thừa cân hoặc béo phì.

Không có một triệu chứng, đặc điểm ngoại hình hay xét nghiệm đơn lẻ nào đủ để khẳng định chẩn đoán trong mọi trường hợp. Nhiễm toan ceton có thể gặp trong đái tháo đường típ 1, nhưng cũng có thể xuất hiện ở đái tháo đường típ 2 có khuynh hướng nhiễm ceton hoặc liên quan thuốc ức chế SGLT2.

Khi nghi ngờ đái tháo đường típ 1, xét nghiệm kháng thể kháng tế bào đảo tụy được ưu tiên, bắt đầu bằng kháng thể GAD; nếu âm tính, có thể xét nghiệm tiếp IA-2 và/hoặc ZnT8. Khi thực hiện đầy đủ ba loại kháng thể, khoảng 90–95% trường hợp có biểu hiện lâm sàng của đái tháo đường típ 1 sẽ cho kết quả dương tính. Tuy nhiên, kháng thể âm tính vẫn không loại trừ hoàn toàn bệnh.

C-peptide cung cấp thêm thông tin về khả năng bài tiết insulin nội sinh, đặc biệt khi kháng thể âm tính hoặc diễn biến lâm sàng không điển hình. C-peptide không nên được diễn giải tách rời thời điểm lấy mẫu, đường huyết đồng thời, chức năng thận và khoảng thời gian kể từ một biến cố tăng hoặc hạ đường huyết cấp.

Một điểm đáng chú ý khác: thuật ngữ “đái tháo đường tự miễn tiềm ẩn ở người trưởng thành” – LADA – không nên khiến bác sĩ trì hoãn insulin khi người bệnh đã có biểu hiện thiếu insulin. Báo cáo xem đây chủ yếu là một phổ tiến triển chậm của đái tháo đường típ 1, thay vì một thể bệnh hoàn toàn tách biệt.

2. Đái tháo đường típ 1 được nhìn nhận như một quá trình gồm ba giai đoạn

Bệnh không bắt đầu tại thời điểm đường huyết tăng rõ hoặc người bệnh phải nhập viện vì nhiễm toan ceton:

* Giai đoạn 1: có từ hai kháng thể đảo tụy trở lên nhưng đường huyết còn bình thường.
* Giai đoạn 2: đã xuất hiện rối loạn đường huyết nhưng chưa đủ tiêu chuẩn đái tháo đường lâm sàng.
* Giai đoạn 3: xuất hiện đái tháo đường có triệu chứng hoặc đạt tiêu chuẩn chẩn đoán thông thường.

Việc phát hiện bệnh từ giai đoạn sớm có thể giúp giảm nguy cơ nhiễm toan ceton khi chẩn đoán, tạo thời gian giáo dục người bệnh và chuẩn bị tâm lý. Tuy vậy, sàng lọc rộng rãi còn đặt ra nhiều vấn đề về chi phí, khả năng tiếp cận, lo âu tâm lý và nguy cơ dương tính giả.

Teplizumab – một kháng thể kháng CD3 – là liệu pháp đầu tiên được phê duyệt tại một số khu vực nhằm trì hoãn chuyển từ giai đoạn 2 sang giai đoạn 3. Một liệu trình truyền trong 14 ngày có thể trì hoãn thời điểm xuất hiện đái tháo đường lâm sàng trung vị khoảng 2–3 năm ở người nguy cơ cao từ 8 tuổi trở lên. Tuy nhiên, đây không phải phương pháp chữa khỏi bệnh; phần lớn người tham gia nghiên cứu còn trẻ và khả năng tiếp cận thuốc phụ thuộc từng quốc gia.

3. Máy theo dõi đường huyết liên tục và hệ thống insulin tự động đã trở thành cấu phần trung tâm

Theo ADA/EASD 2026, theo dõi đường huyết liên tục – CGM – là phương pháp ưu tiên và là chuẩn chăm sóc đối với người trưởng thành mắc đái tháo đường típ 1. CGM không chỉ cung cấp một con số đường huyết, mà còn cho biết xu hướng tăng giảm, cảnh báo nguy hiểm, thời gian trong vùng mục tiêu và mức độ dao động đường huyết.

Hệ thống phân phối insulin tự động – AID, thường được gọi là hệ thống vòng kín lai – được xem là phương pháp đưa insulin tối ưu nếu người bệnh có thể sử dụng thường xuyên và được đào tạo đầy đủ. Hệ thống kết hợp máy theo dõi đường huyết, bơm insulin và thuật toán tự điều chỉnh lượng insulin.

Tuy nhiên, phần lớn thiết bị hiện nay chưa hoàn toàn “tự động”. Người dùng vẫn cần khai báo bữa ăn, ước tính carbohydrate và thông báo trước khi vận động. Hiệu quả của thiết bị phụ thuộc nhiều vào đào tạo, kỹ năng sử dụng và khả năng xử trí khi cảm biến hoặc bơm gặp sự cố.

Ngay cả khi đang dùng CGM, tất cả người bệnh vẫn cần có máy đo đường huyết mao mạch dự phòng và phương tiện xét nghiệm ceton máu hoặc nước tiểu.

4. Không nên đánh giá kiểm soát đường huyết chỉ bằng HbA1c

Đối với phần lớn người trưởng thành mắc đái tháo đường típ 1, các mục tiêu tham khảo gồm:

- HbA1c dưới 7%.
- Thời gian trong khoảng 3,9–10,0 mmol/L: trên 70%.
- Thời gian dưới 3,9 mmol/L: dưới 4%.
- Thời gian dưới 3,0 mmol/L: dưới 1%.
- Thời gian trên 10,0 mmol/L: dưới 25%.
- Thời gian trên 13,9 mmol/L: dưới 5%.
- Hệ số biến thiên đường huyết: dưới 36%.

Những mục tiêu này phải được cá thể hóa. Người cao tuổi suy yếu, có hạ đường huyết nặng hoặc tuổi thọ hạn chế có thể cần mục tiêu ít nghiêm ngặt hơn. Ngược lại, thai phụ và một số người có khả năng tự quản lý tốt có thể hướng tới mục tiêu chặt chẽ hơn nếu không làm tăng hạ đường huyết.

HbA1c vẫn có giá trị tiên lượng quan trọng, nhưng không phản ánh được dao động đường huyết hoặc những cơn hạ đường huyết. Hai người có cùng HbA1c hoàn toàn có thể có mức độ an toàn rất khác nhau.

5. Insulin vẫn là nền tảng không thể thay thế

Insulin ngoại sinh suốt đời vẫn là điều trị thiết yếu đối với đái tháo đường típ 1. Insulin analog được ưu tiên; khi điều trị nhiều mũi, bút tiêm thường thuận tiện và chính xác hơn lọ insulin kèm bơm tiêm.

Các insulin nền thế hệ mới như glargine U300 hoặc degludec có thời gian tác dụng dài, ít biến thiên và có thể giảm hạ đường huyết ở một số người bệnh. Trong khi đó, insulin nền tiêm một lần mỗi tuần hiện chưa được khuyến cáo sử dụng thường quy trong đái tháo đường típ 1 do các thử nghiệm ghi nhận hạ đường huyết mức độ 2 và 3 nhiều hơn, tập trung vào những ngày giữa chu kỳ tiêm.

Bác sĩ cũng cần khám vị trí tiêm hoặc đặt dây truyền insulin ít nhất mỗi năm. Loạn dưỡng phì đại mô mỡ do tiêm lặp lại cùng vị trí rất thường gặp, có thể làm insulin hấp thu thất thường và gây cả tăng lẫn hạ đường huyết.

6. Chưa có thuốc bổ trợ nào được khuyến cáo thường quy cho tất cả người bệnh

Đây là điểm cần được hiểu thật thận trọng.

Metformin chỉ đem lại lợi ích khiêm tốn và thường không bền vững đối với HbA1c, cân nặng và liều insulin; vì vậy không được khuyến cáo thường quy trong đái tháo đường típ 1.

Các thuốc đồng vận thụ thể GLP-1 hoặc đồng vận kép GLP-1/GIP như semaglutide và tirzepatide đang cho thấy tiềm năng giảm cân, giảm liều insulin và cải thiện một phần kiểm soát đường huyết. Tuy nhiên, các thuốc này chưa được phê duyệt để kiểm soát đường huyết trong đái tháo đường típ 1. Khi được chỉ định điều trị béo phì ở người mắc đái tháo đường típ 1, cần lựa chọn kỹ, điều chỉnh insulin chủ động và theo dõi nguy cơ hạ đường huyết, nhiễm ceton, buồn nôn, nôn và chậm làm rỗng dạ dày.

Thuốc ức chế SGLT2 có thể cải thiện đường huyết, cân nặng và huyết áp, nhưng làm nguy cơ nhiễm toan ceton tăng khoảng 2,57–5,96 lần. Đáng lo ngại hơn, một phần trường hợp là nhiễm toan ceton với đường huyết không quá cao. Vì vậy, nhóm thuốc này không được khuyến cáo thường quy và hiện không được phê duyệt để điều trị đái tháo đường típ 1.

Thông điệp quan trọng là: trước khi nghĩ đến thuốc bổ trợ, cần tối ưu insulin, công nghệ theo dõi và giáo dục tự quản lý.

7. Hạ đường huyết và nhiễm toan ceton vẫn là hai ưu tiên an toàn hàng đầu

Bác sĩ nên chủ động hỏi người bệnh: “Anh/chị có luôn nhận biết được khi đường huyết xuống thấp không?” và “Thường bắt đầu có triệu chứng ở mức đường huyết nào?”. Khoảng 25–30% người mắc đái tháo đường típ 1 có suy giảm nhận biết hạ đường huyết, làm tăng đáng kể nguy cơ hạ đường huyết nặng.

Với hạ đường huyết còn tỉnh táo, nguyên tắc thông thường là dùng khoảng 15 g glucose hoặc carbohydrate hấp thu nhanh và kiểm tra lại sau 15 phút. Khi đang sử dụng hệ thống AID, đôi khi chỉ cần 5–10 g vì thiết bị có thể đã giảm hoặc ngừng truyền insulin; điều trị quá mức dễ gây tăng đường huyết bật lại. Mỗi người bệnh có nguy cơ hạ đường huyết nặng nên được chuẩn bị glucagon và hướng dẫn người thân cách sử dụng.

Nhiễm toan ceton phần lớn có thể phòng ngừa. Người bệnh cần một kế hoạch rõ ràng cho những ngày ốm: uống loại dịch nào, kiểm tra đường huyết và ceton bao lâu một lần, khi nào cần tiêm bổ sung insulin và dấu hiệu nào đòi hỏi đến cơ sở y tế. Đường huyết không quá cao không loại trừ nhiễm toan ceton, đặc biệt trong thai kỳ, khi dùng bơm insulin hoặc thuốc ức chế SGLT2.

8. Béo phì và nguy cơ tim mạch phải được điều trị như những thành phần thực sự của bệnh

Thừa cân, béo phì ở người mắc đái tháo đường típ 1 ít nhất cũng phổ biến như trong dân số chung. Ngoài các nguyên nhân thông thường, ăn thêm để phòng hoặc xử trí hạ đường huyết và tình trạng insulin ngoại vi cao do tiêm dưới da cũng có thể góp phần làm tăng cân.

Điều trị cần phối hợp dinh dưỡng, vận động, thuốc quản lý béo phì thế hệ mới và phẫu thuật chuyển hóa khi có chỉ định. Chế độ ăn rất ít carbohydrate hoặc ketogenic cần đặc biệt thận trọng vì có thể làm tăng nguy cơ hạ đường huyết, giảm dự trữ glycogen và dẫn đến thiếu insulin tương đối hoặc nhiễm toan ceton.

Nguy cơ tim mạch ở đái tháo đường típ 1 tăng rõ rệt. Nếu dung nạp an toàn, mục tiêu huyết áp điều trị là dưới 130/80 mmHg; ở người có nguy cơ tim mạch hoặc bệnh thận cao, có thể cân nhắc mục tiêu dưới 120/80 mmHg. Statin nên được xem xét ở người trên 40 tuổi và ở người 20–39 tuổi nếu nguy cơ tim mạch 10 năm đủ cao. Mục tiêu LDL-cholesterol được đề xuất là dưới 1,8 mmol/L trong dự phòng tiên phát và dưới 1,4 mmol/L khi đã có bệnh tim mạch.

Tuy nhiên, cần lưu ý rằng nhiều khuyến cáo tim mạch hiện vẫn phải ngoại suy từ các nghiên cứu ở đái tháo đường típ 2 hoặc dân số không mắc đái tháo đường vì còn thiếu thử nghiệm kết cục tim mạch riêng cho típ 1.

9. Tầm soát biến chứng cần có hệ thống

Ở người trưởng thành, việc tầm soát thường quy bệnh võng mạc, bệnh thận và bệnh thần kinh ngoại biên thường được bắt đầu sau 5 năm kể từ khi chẩn đoán đái tháo đường típ 1, sau đó điều chỉnh tần suất theo nguy cơ.

Những thăm dò cốt lõi gồm:

- Chụp đáy mắt hoặc khám mắt toàn diện.
- Tỷ số albumin/creatinin niệu và mức lọc cầu thận ước tính.
- Khám bàn chân và đánh giá cảm giác bảo vệ bằng monofilament 10 g.
- Khai thác triệu chứng bệnh thần kinh tự chủ như chóng mặt tư thế, nhịp tim nhanh khi nghỉ, rối loạn tiêu hóa, rối loạn cương hoặc bất thường tiết mồ hôi.

Một kết quả albumin niệu tăng đơn độc chưa đủ để kết luận bệnh thận do đái tháo đường. Cần xác nhận ít nhất hai trong ba mẫu bất thường trong vòng 3–6 tháng, sau khi loại trừ vận động gắng sức, nhiễm trùng tiết niệu, mất nước, kinh nguyệt và các nguyên nhân khác.

10. Sức khỏe tâm lý không phải vấn đề “phụ”, mà là một phần của điều trị

Khoảng 20–40% người trưởng thành mắc đái tháo đường típ 1 trải qua căng thẳng liên quan bệnh. Trầm cảm và lo âu phổ biến gấp khoảng hai lần so với người không mắc đái tháo đường. Gánh nặng phải liên tục tính toán thức ăn, insulin, vận động, cảnh báo thiết bị và nỗi sợ biến chứng có thể dẫn đến kiệt sức vì bệnh.

ADA/EASD khuyến cáo đánh giá sức khỏe tâm lý định kỳ, ít nhất mỗi năm. Nhóm chăm sóc đái tháo đường lý tưởng nên có sự tham gia hoặc hỗ trợ của chuyên gia sức khỏe tâm thần. Giáo dục tự quản lý cần được cung cấp khi mới chẩn đoán, định kỳ hằng năm, khi chưa đạt mục tiêu, khi xuất hiện biến chứng và tại các giai đoạn chuyển tiếp trong cuộc sống hoặc điều trị.

11. Một số tình huống đặc biệt cần được nhìn nhận khác trước

Ở người cao tuổi, mục tiêu điều trị nên dựa trên chức năng nhận thức, khả năng tự chăm sóc, mức độ suy yếu, sự hỗ trợ của người thân và tiền sử hạ đường huyết – không chỉ dựa vào tuổi. Không nên ngừng hoặc từ chối CGM và AID chỉ vì người bệnh lớn tuổi.

Trong thai kỳ, mục tiêu đường huyết chặt chẽ hơn; khoảng mục tiêu trên CGM là 3,5–7,8 mmol/L. AID nên được tạo điều kiện sử dụng trước, trong và sau thai kỳ khi có đội ngũ đủ kinh nghiệm, nhưng không phải hệ thống nào cũng đã được phê duyệt riêng cho thai phụ.

Trong bệnh viện, một sai sót đặc biệt nguy hiểm là ngừng insulin nền ở người mắc đái tháo đường típ 1 khi nhịn ăn, làm thủ thuật hoặc phẫu thuật. Đối với phần lớn người bệnh nội trú, mục tiêu đường huyết là 7,8–10,0 mmol/L; có thể hướng tới 5,6–10,0 mmol/L ở người không nguy kịch nếu đạt được mà không gây hạ đường huyết.

❤️ THÔNG ĐIỆP QUAN TRỌNG

Đồng thuận ADA/EASD 2026 cho thấy quản lý đái tháo đường típ 1 đã chuyển từ tư duy “kê insulin và theo dõi HbA1c” sang một mô hình toàn diện hơn:

Chẩn đoán đúng – lựa chọn insulin và công nghệ phù hợp – đánh giá cả thời gian trong vùng mục tiêu – chủ động phòng hạ đường huyết và nhiễm toan ceton – quản lý béo phì, nguy cơ tim mạch, biến chứng và sức khỏe tâm lý.

Công nghệ ngày càng tiến bộ, nhưng không thể thay thế hoàn toàn giáo dục, sự đồng hành của nhân viên y tế và khả năng tự quản lý của người bệnh. Đích đến cuối cùng không chỉ là một con số đường huyết đẹp, mà là giúp người mắc đái tháo đường típ 1 sống lâu hơn, an toàn hơn và có chất lượng cuộc sống tốt hơn.

Nguồn: Holt RIG và cộng sự. “The management of type 1 diabetes in adults. The updated 2026 consensus report by the ADA and EASD.” Diabetologia, công bố trực tuyến ngày 16/9/2026. Xem toàn văn báo cáo dưới comment.

FINERENONE – “VŨ KHÍ MỚI” BẢO VỆ THẬN Ở BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNGTổn thương thận là một biến chứng phổ biến ở các BN ĐTĐ,...
18/09/2026

FINERENONE – “VŨ KHÍ MỚI” BẢO VỆ THẬN Ở BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG

Tổn thương thận là một biến chứng phổ biến ở các BN ĐTĐ, nó không chỉ dẫn đến suy thận mà còn làm tăng nguy cơ bị các biến cố tim mạch và tử vong. Vì vậy, bảo vệ thận cần được xem là một mục tiêu quan trọng trong điều trị ĐTĐ. Hiện ở Việt Nam đã có 4 thuốc được coi là trụ cột bảo vệ thận ở người bệnh ĐTĐ là (1) thuốc huyết áp ức chế men chuyển/chẹn thụ thể angiotensin; (2) thuốc mỡ máu statin; (3) thuốc đái đường ức chế SGLT-2; và (4) thuốc đái đường GLP-1 RA (Semaglutide). Gần đây có thêm thuốc đối kháng thụ thể mineralocorticoid không steroid – Finerenone được chứng minh có hiệu quả tốt và đã được FDA Hoa Kỳ chấp thuận là trụ cột thứ 5 để bảo vệ thận ở BN ĐTĐ cả típ 1 và típ 2.

1. Thuốc Finerenone có gì đặc biệt?
• Ở BN ĐTĐ, tổn thương thận không chỉ liên quan đến đường huyết và huyết áp mà còn liên quan đến tình trạng hoạt hóa quá mức thụ thể mineralocorticoid tại thận và tim. Finerenone giúp ức chế có chọn lọc thụ thể này, từ đó hướng tới giảm tổn thương thận và nguy cơ tim mạch.
• Nhiều Bác sĩ và BN ĐTĐ quan niệm thận tốt là creatinin hoặc mức lọc cầu thận (eGFR) bình thường. Tuy nhiên một chỉ dấu đặc biệt quan trọng trong theo dõi bệnh thận do ĐTĐ là tỷ lệ albumin/creatinin niệu (UACR). UACR càng cao thường phản ánh nguy cơ bệnh thận tiến triển càng lớn; giảm UACR là một trong những mục tiêu quan trọng trong chiến lược bảo vệ thận. Vì vậy, người bệnh ĐTĐ cần được kiểm tra UACR và eGFR định kỳ để phát hiện sớm bệnh thận và đánh giá nguy cơ tiến triển.
• Finerenone mở thêm một hướng tiếp cận: không chỉ kiểm soát đường huyết và huyết áp mà còn tác động trực tiếp vào một cơ chế bệnh sinh quan trọng của tổn thương thận.

2. Finerone được chỉ định để bảo vệ thận ở BN ĐTĐ típ 2 từ tháng 7/ 2021: Ở BN ĐTĐ típ 2 kèm bệnh thận mạn, các nghiên cứu lớn như FIDELIO-DKD và FIGARO-DKD đã cung cấp bằng chứng về lợi ích của finerenone đối với các kết cục thận và tim mạch. Đó là cơ sở để finerenone được FDA chấp thuận để làm giảm nguy cơ:
• Suy giảm mức lọc cầu thận ước tính kéo dài;
• Bệnh thận giai đoạn cuối;
• Tử vong do tim mạch;
• Nhồi máu cơ tim không tử vong;
• Nhập viện vì suy tim.

3. Finerenone vừa được FDA chấp thuận cho điều trị để bảo vệ thận ở BN ĐTĐ típ 1 vào ngày hôm qua 17/ 9/ 2026
• Cơ sở chính là từ FINE-ONE - nghiên cứu pha III trên 242 người trưởng thành mắc ĐTĐ típ1 và bệnh thận mạn. BN được dùng finerenone 10 hoặc 20 mg mỗi ngày hoặc giả dược, bên cạnh điều trị tiêu chuẩn. Kết quả cho thấy sau 6 tháng: Finerenone làm giảm UACR 28% so với giả dược, với hiệu quả đã được ghi nhận từ tháng thứ 3 và duy trì đến tháng thứ 6.
• Dựa trên những dữ liệu này, FDA đã chấp thuận finerenone để giảm UACR ở người trưởng thành mắc bệnh thận mạn liên quan đến ĐTĐ típ1, với kỳ vọng làm giảm nguy cơ suy giảm eGFR kéo dài và bệnh thận giai đoạn cuối.

4. Ý nghĩa của việc FDA phê duyệt thuốc đối kháng thụ thể mineralocorticoid - Finerenone
• Khoảng 20–30% số BN ĐTĐ típ 1 tại Hoa Kỳ đồng thời mắc bệnh thận mạn, làm gia tăng nguy cơ bệnh thận tiến triển và suy thận.
• Việc FDA phê duyệt finerenone nhằm làm giảm tỷ lệ UACR, qua đó được kỳ vọng làm chậm tiến triển bệnh thận mạn ở người trưởng thành mắc bệnh thận mạn liên quan đến ĐTĐ típ 1, có ý nghĩa rất quan trọng vì đây là thuốc đầu tiên được chứng minh đối với bệnh thận mạn do ĐTĐ típ 1 trong hơn 30 năm qua.
• Finerenone cũng được phê duyệt để làm giảm nguy cơ suy giảm mức lọc cầu thận ước tính (eGFR) kéo dài, bệnh thận giai đoạn cuối, tử vong do tim mạch, nhồi máu cơ tim không tử vong và nhập viện vì suy tim ở người trưởng thành mắc bệnh thận mạn liên quan đến ĐTĐ típ 2.
• Ngoài ra, finerenone được phê duyệt để làm giảm nguy cơ tử vong do tim mạch, nhập viện vì suy tim và các lần khám cấp cứu do suy tim ở người trưởng thành mắc suy tim với phân suất tống máu thất trái (LVEF) ≥40%.

5. Những lưu ý khi điều trị Finerenone:
• Finerenone không phải là thuốc “dùng càng nhiều càng tốt”. Cần lưu ý tác dụng phụ tăng kali máu. Trong nghiên cứu FINE-ONE, tăng kali máu được ghi nhận ở 10,1% BN dùng finerenone so với 3,3% ở nhóm giả dược; tỷ lệ phải ngừng thuốc do tăng kali máu lần lượt là 1,7% và 0%.
• Vì vậy, trước khi bắt đầu điều trị cần kiểm tra kali máu và eGFR, đồng thời tiếp tục theo dõi kali định kỳ trong quá trình điều trị. Không nên bắt đầu finerenone khi kali máu >5 mEq/L.
• Ngoài ra, cần lưu ý các tương tác thuốc, đặc biệt với các thuốc ức chế mạnh CYP3A4; việc sử dụng đồng thời bị chống chỉ định theo thông tin kê đơn được cung cấp.

6. Thông điệp dành cho người bệnh:
• ĐTĐ và bệnh thận mạn thường tiến triển âm thầm. Đừng chờ đến khi creatinin tăng mới quan tâm đến thận. Finerenone mở ra thêm một lựa chọn trong chiến lược bảo vệ thận và tim mạch ở người bệnh ĐTĐ có bệnh thận mạn. Nhưng “vũ khí” hiệu quả nhất vẫn là phát hiện sớm tổn thương thận, điều trị đúng đối tượng và theo dõi người bệnh một cách toàn diện.
• Thông tin quan trong là thuốc Finerenone (Kerendia) của Công ty Bayer sắp có mặt tại thị trường Việt Nam.

Address

Hanoi
100000

Telephone

+84914868080

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Trung tâm Nội tiết và Chuyển hoá, Bệnh viện Bạch Mai posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Shortcuts

Share