Bác sĩ Nguyễn Viết Chung

Bác sĩ Nguyễn Viết Chung Giảng viên Bộ môn Tâm thần và tâm lý lâm sàng – Trường Đại học Y Dược - Đại học Quốc Gia Hà Nội.
2.

Tiến sĩ.BSNT Nguyễn Viết Chung
Trưởng khoa - khoa Sức khỏe tâm thần - Bệnh viện E trung ương
Giảng viên bộ môn Tâm thần và tâm lý học lâm sàng - ĐH Y dược - ĐHQGHN
https://linkbio.co/508240168pUEa KINH NGHIỆM LÀM VIỆC
• 2010-2016: Bác sĩ Đa khoa tại Đại học Y Hà Nội
• 2016 – 2019: Bác sĩ nội trú - chuyên ngành Tâm thần, Viện Sức khỏe Tâm thần quốc gia, bệnh viện Bạch Mai
• 2019 đến nay:

1. Bác sĩ điều trị tại khoa sức khỏe tâm thần - Bệnh viện E Trung Ương
3. Nghiên cứu sinh Tiến sĩ Tâm lý học lâm sàng trẻ em và vị thành niên – ĐHGD – Đại học Quốc Gia Hà Nội

ĐIỀU TRỊ CÁC RỐI LOẠN TÂM THẦN VÀ TÂM LÝ
1. Thế mạnh: Các rối loạn cảm xúc – hành vi ở tuổi teen, các vấn đề tâm thần – tâm lý học đường
2. Các rối loạn liên quan Stress và dạng cơ thể:
• Các trường hợp ám ảnh, rối loạn hoảng sợ, cơn hoảng sợ, rối loạn lo âu lan toả.
• Các phản ứng với Stress: rối loạn sự thích ứng, Stress cấp, rối loạn liên quan mất người thân.
• Các triệu chứng cơ thể của lo âu và rối loạn dạng cơ thể, rối loạn thần kinh thực vật: đau đầu, chóng mặt, ù tai, khô miệng, cảm giác trào ngược dạ dày thực quản, tim nhanh, hồi hộp, vã mồ hôi, run tay chân, rối loạn tiêu hoá.
3. Các rối loạn hành vi và sinh lý:
• Rối loạn giấc ngủ: mất ngủ, ác mộng, cơn sợ hãi ban đêm, rối loạn nhịp thức ngủ, các rối loạn hành vi trong giấc ngủ.
• Rối loạn liên quan thời kỳ sinh đẻ: trầm cảm, lo âu, mất ngủ.
4. Các rối loạn cảm xúc: trầm cảm, trầm cảm dai dẳng, rối loạn lưỡng cực.
5. Rối loạn tâm thần người già: Sa sút trí tuệ, suy giảm nhận thức nhẹ (trong bệnh Alzheimer, Parkinson, tai biến mạch não), trầm cảm – lo âu, rối loạn giấc ngủ và các rối loạn hành vi cảm xúc khác ( cáu gắt, hưng phấn,…). Liên hệ đặt khám với bác sĩ Nguyễn Viết Chung theo số 0981. 424. 119

27/08/2026

Đây là những gì người mắc ADHD nghĩ đến cùng 1 lúc

Vừa vũ trụ, thiên văn, triết học, y học, lịch sử, địa lý,...và rất nhiều thứ.

Can thiệp sớm cho trẻ mắc rối loạn phổ tự kỷ, không chỉ là giúp trẻ tiến bộ tốt nhất. Mà thống kê cũng chỉ ra bằng con s...
25/08/2026

Can thiệp sớm cho trẻ mắc rối loạn phổ tự kỷ, không chỉ là giúp trẻ tiến bộ tốt nhất. Mà thống kê cũng chỉ ra bằng con số rằng mất chi phí giai đoạn 2-5 tuổi, nhưng sau đó tiết kiệm được chi phí cho các vấn đề khác của trẻ nhiều năm về sau.

Tảng băng chi phí cũng cho chúng ta thấy thực sự chi phí cho trẻ mắc rối loạn phổ tự kỷ là rất lớn.

25/08/2026

Não bộ là một cấu trúc hoàn hảo, chi tiết, từng bộ phận dù rất nhỏ nhưng đảm nhiệm vai trò gần như không thể thay thế.

24/08/2026

Video ghi lại 1 neuron thần kinh chết sau 1 thời gian không còn duy trì được kết nối với các tế bào thần kinh khác.
Điều này có thể gặp trong những tình trạng lão hóa, tình trạng stress - mất ngủ kéo dài, và cả trong các rối loạn tâm thần lâu ngày.
Vậy nên, việc duy trì các kết nối thần kinh thông qua việc duy trì các thói quen tốt, giữ các hoạt động nhận thức và thể chất là rất quan trọng.
Nguồn video: webmd

Khoa Sức khỏe Tâm thần – Bệnh viện E trân trọng kính mời quý đồng nghiệp tham dự Seminar với chủ đề: “RỐI LOẠN PHỔ TỰ KỶ...
23/08/2026

Khoa Sức khỏe Tâm thần – Bệnh viện E trân trọng kính mời quý đồng nghiệp tham dự Seminar với chủ đề: “RỐI LOẠN PHỔ TỰ KỶ: TỔNG QUAN VỀ CAN THIỆP SỚM”
Can thiệp sớm có vai trò đặc biệt quan trọng đối với trẻ rối loạn phổ tự kỷ, nhất là trong những năm đầu đời – giai đoạn não bộ có tính mềm dẻo cao và các kỹ năng giao tiếp, tương tác xã hội, ngôn ngữ, nhận thức và thích nghi đang phát triển mạnh mẽ. Việc phát hiện sớm và triển khai can thiệp phù hợp có thể giúp trẻ phát huy tối đa tiềm năng phát triển, giảm ảnh hưởng của các khó khăn cốt lõi và tăng khả năng tham gia vào đời sống gia đình, học tập và cộng đồng.
Buổi sinh hoạt tập trung cung cấp cái nhìn tổng quan về mục tiêu, nguyên tắc và các thành phần chính của can thiệp sớm ở trẻ rối loạn phổ tự kỷ; đồng thời giới thiệu những nhóm phương pháp can thiệp có cơ sở bằng chứng, vai trò của gia đình và sự phối hợp đa chuyên ngành. Các nội dung như xác định mục tiêu ưu tiên, lựa chọn phương pháp phù hợp với đặc điểm phát triển của từng trẻ, theo dõi tiến bộ và điều chỉnh kế hoạch can thiệp sẽ được trao đổi nhằm hỗ trợ người thực hành xây dựng chương trình can thiệp sớm có tính cá thể hóa, thực tiễn và hiệu quả.
Chủ trì:
TS.BS Nguyễn Hữu Chiến
TS.BS Nguyễn Viết Chung
Báo cáo viên:
ThS.BSNT. Vũ Thu Thủy
Thời gian: 13h00 – 14h00, Thứ Ba, ngày 25/08/2026
Hình thức: Trực tiếp tại Khoa Sức khỏe Tâm thần – Bệnh viện E Kết hợp trực tuyến qua Zoom

Link nhóm zalo để cập nhật link tham dự và tài liệu: https://zalo.me/g/48wi00mo3jwoatheb13j

✨Trầm cảm có thể lấy đi khả năng làm việc của một người như thế nào?Có những người mắc trầm cảm khi đang ở độ tuổi đẹp n...
20/08/2026

✨Trầm cảm có thể lấy đi khả năng làm việc của một người như thế nào?
Có những người mắc trầm cảm khi đang ở độ tuổi đẹp nhất để học tập, lao động và xây dựng sự nghiệp.
32 tuổi.
Một cơ thể hoàn toàn bình thường, khỏe mạnh, cao ráo, không có vẻ gì là một người đang mất khả năng lao động.
Nhưng bên trong lại là một cuộc chiến khác.
Người bệnh luôn cảm thấy mệt mỏi.
Làm việc chậm hơn trước.
Khó tập trung.
Đọc một tài liệu phải đọc đi đọc lại nhiều lần.
Vừa được giao một việc đã quên mất một phần.
Đang làm việc thì đầu óc như "đứng lại", không thể tiếp tục suy nghĩ.
Những công việc trước đây vốn rất quen thuộc, nay cũng trở nên nặng nề.
Và điều đáng buồn nhất là: người bệnh biết mình đang thay đổi nhưng không hiểu tại sao.
Họ có thể bắt đầu tự trách mình: "Tại sao trước đây mình làm được mà bây giờ lại không?"
"Mình mới 32 tuổi, tại sao đã không thể làm việc như trước?"
"Có phải mình trở nên kém cỏi rồi không?"
Nhưng đôi khi, vấn đề không nằm ở sự lười biếng hay thiếu cố gắng.

Trầm cảm có thể ảnh hưởng trực tiếp đến năng lượng, tốc độ xử lý thông tin, sự chú ý, trí nhớ và các chức năng nhận thức cần thiết cho công việc.
Đây là lý do một người vẫn có thể nhìn hoàn toàn khỏe mạnh từ bên ngoài nhưng lại đang gặp suy giảm chức năng rất đáng kể.
Đáng sợ không phải chỉ là cảm giác buồn
Khi nói về trầm cảm, người ta thường nghĩ đến buồn bã, khóc, bi quan.
Nhưng với nhiều người bệnh, điều khiến cuộc sống thay đổi mạnh mẽ lại là:
không còn đủ năng lượng để làm việc.
không thể tập trung như trước.
không thể suy nghĩ nhanh như trước.
không nhớ được những điều vừa mới tiếp nhận.
Và cuối cùng là không còn làm được công việc mà trước đây mình từng làm rất tốt.
Một người có thể không mất sức mạnh cơ bắp, không có thương tổn rõ ràng trên cơ thể, nhưng lại mất đi khả năng duy trì hiệu suất trí óc cần thiết cho công việc.
Đó cũng là một dạng mất chức năng do bệnh.

32 tuổi và phải nghỉ việc
Có lẽ điều khiến người bệnh đau lòng nhất không phải là việc nghỉ việc.
Mà là cảm giác: "Mình còn quá trẻ để phải như thế này."
Ở tuổi 32, đáng lẽ họ đang xây dựng sự nghiệp, tăng thu nhập, chăm sóc gia đình, học thêm những điều mới và thực hiện những kế hoạch của cuộc đời.
Nhưng trầm cảm khiến tất cả những điều đó trở nên xa vời.
Một người vốn độc lập có thể phải phụ thuộc vào gia đình.
Một người từng làm việc hiệu quả có thể phải xin nghỉ.
Một người từng tự tin có thể bắt đầu nghi ngờ chính năng lực của mình.
Và đôi khi, những người xung quanh chỉ nhìn thấy một người "không chịu cố gắng".
Họ không nhìn thấy cuộc chiến đang diễn ra bên trong.
Vì vậy, đừng đánh giá một người bệnh qua vẻ ngoài
Một người cao ráo, khỏe mạnh, ăn mặc bình thường, vẫn đi lại được, vẫn nói chuyện được...
không có nghĩa là họ đang đủ sức để làm việc.
Sức khỏe không chỉ là việc cơ thể có thể đứng, đi và vận động.
Để làm việc, một con người còn cần năng lượng, sự chú ý, trí nhớ, khả năng xử lý thông tin, động lực và khả năng duy trì hoạt động trong nhiều giờ.
Trầm cảm có thể ảnh hưởng đến tất cả những điều đó.
Và khi bệnh được điều trị tốt, điều chúng ta mong muốn không chỉ là người bệnh "hết buồn".
Mà là họ có thể từng bước:
ngủ tốt hơn → có năng lượng hơn → tập trung tốt hơn → suy nghĩ rõ ràng hơn → làm việc trở lại → lấy lại sự tự tin → trở lại cuộc sống của chính mình.
Đó mới thực sự là hồi phục.

Vì vậy, nếu một người trẻ đang ở độ tuổi lao động nhưng đột nhiên không thể học tập, làm việc như trước, luôn mệt mỏi, chậm chạp, khó tập trung, hay quên và mất động lực kéo dài, đừng vội kết luận rằng họ lười biếng hay thiếu ý chí. Bởi có thể họ như trường hợp trong ảnh, trầm cảm nặng và trí nhớ suy giảm nhiều.
Đôi khi, phía sau một người "không thể làm việc" lại là một người đang mắc một căn bệnh hoàn toàn có thể điều trị được.
Và điều quan trọng là nhận diện bệnh càng sớm, điều trị càng sớm, phục hồi chức năng càng sớm — trước khi người bệnh phải đánh đổi quá nhiều năm tháng của tuổi trẻ.

Vì sao bác sĩ thấy buồn, lo, và tiếc khi bệnh nhân trầm cảm vừa đỡ đã tự ý dừng điều trị? Bởi nhiều người chỉ sau khi tự...
19/08/2026

Vì sao bác sĩ thấy buồn, lo, và tiếc khi bệnh nhân trầm cảm vừa đỡ đã tự ý dừng điều trị? Bởi nhiều người chỉ sau khi tự dừng thuốc 2-3 tháng đã lại tái phát bệnh, thậm chí nặng hơn, hay không còn đáp ứng tốt với thuốc như trước nữa. Không những vậy, điều này còn làm bệnh nhân nản lòng và cảm thấy thất bại hơn gấp nhiều lần ban đầu. Đặc biệt với giai đoạn trầm cảm đầu tiên, điều trị được triệt để và dự phòng tốt sẽ giúp bệnh nhân không rơi vào vòng lặp tái diễn, tái phát bệnh dễ dàng.

Thực tế là vậy, có những trường hợp sau một thời gian điều trị, người bệnh trầm cảm bắt đầu khỏe lên rất rõ.
Ngủ tốt hơn.
Ăn uống tốt hơn.
Tinh thần nhẹ nhàng hơn.
Có thể quay trở lại công việc, gặp gỡ bạn bè, trò chuyện với gia đình.

Và vì nhiều lý do, họ tự bỏ điều trị.

🦈Sự nhầm lẫn tai hại: “đã hết triệu chứng” và “bệnh đã được điều trị hoàn tất” là hoàn toàn khác nhau.
Hết triệu chứng chưa có nghĩa là đã đến lúc dừng điều trị

Trầm cảm có thể được hình dung như một căn bệnh có nhiều giai đoạn.
Giai đoạn đầu tiên là điều trị để đưa người bệnh ra khỏi cơn trầm cảm. Khi các triệu chứng đã thuyên giảm, công việc chưa kết thúc.

Chúng ta bước sang giai đoạn duy trì điều trị và phòng ngừa tái phát.

Đây là lý do các hướng dẫn điều trị hiện nay khuyến cáo tiếp tục thuốc chống trầm cảm sau khi người bệnh đã đáp ứng và thuyên giảm, thay vì dừng ngay khi cảm thấy khỏe. NICE khuyến nghị người bệnh tiếp tục thuốc chống trầm cảm ít nhất 6 tháng sau khi thuyên giảm, với thời gian dài hơn với những người có nguy cơ tái phát cao.

Nói cách khác: Cảm thấy khỏe là một dấu hiệu rất đáng mừng, nhưng không phải lúc nào cũng là tín hiệu để tự mình kết thúc điều trị.

✨Vì sao bác sĩ lo khi bệnh nhân tự dừng thuốc? Bởi vì trầm cảm có khả năng tái phát.
Nguy cơ này đặc biệt đáng lưu ý ở những người đã từng có nhiều giai đoạn trầm cảm trước đó, còn triệu chứng tồn dư, có tiền sử tái phát hoặc đang phải đối mặt với những yếu tố stress kéo dài.

Một systematic review và meta-analysis lớn về điều trị duy trì cho thấy những người tiếp tục sử dụng thuốc chống trầm cảm có nguy cơ tái phát thấp hơn đáng kể so với những người chuyển sang placebo sau khi đã thuyên giảm. Hiệu quả này được quan sát trong nhiều nhóm bệnh nhân và với nhiều loại thuốc chống trầm cảm khác nhau.

Có một nghịch lý rất đáng chú ý
Khi thuốc có hiệu quả, người bệnh cảm thấy mình đã trở lại bình thường.
Và chính vì đã trở lại bình thường, họ lại nghĩ rằng mình không cần thuốc nữa.
Điều này hoàn toàn dễ hiểu.

Một người vừa trải qua những tháng ngày rất khó khăn, nay đã có thể làm việc, ngủ ngon và vui vẻ trở lại, họ muốn được sống như trước và không muốn tiếp tục nghĩ về bệnh.

Nhưng chính thời điểm cảm thấy khỏe lại có thể là lúc cần cùng bác sĩ đánh giá kế hoạch duy trì điều trị, chứ không phải tự mình kết thúc.

Và nếu bệnh tái phát thì sao?
Một lần tái phát có thể không chỉ đơn giản là "buồn trở lại".
Người bệnh có thể lại mất ngủ, mất năng lượng, giảm khả năng tập trung, mất hứng thú, giảm khả năng làm việc và phải bắt đầu lại quá trình điều trị.
Có người mất nhiều tuần hoặc nhiều tháng mới hồi phục hoàn toàn.

Và mỗi lần tái phát có thể kéo theo những ảnh hưởng mới đối với công việc, học tập, gia đình và chất lượng cuộc sống.

Đó là lý do phòng tái phát luôn là một phần quan trọng của điều trị trầm cảm, chứ không phải một việc chỉ thực hiện sau khi bệnh đã tái phát.

✨Bác sĩ không bao giờ muốn bệnh nhân uống thuốc mãi mãi
Đây là điều rất quan trọng cần nói rõ.

Việc tiếp tục thuốc bao lâu không giống nhau ở tất cả mọi người.
Có người có thể giảm và ngừng thuốc sau một thời gian phù hợp.
Có người cần điều trị lâu hơn vì nguy cơ tái phát cao.
Quyết định này cần dựa trên số lần trầm cảm trước đây, mức độ nặng, các triệu chứng còn tồn tại, đáp ứng điều trị, các yếu tố nguy cơ và mong muốn của chính người bệnh.

Và khi quyết định ngừng thuốc, việc giảm liều thường cần được thực hiện từ từ và có kế hoạch với bác sĩ, thay vì dừng đột ngột. NICE cũng khuyến nghị giảm liều từng bước khi ngừng thuốc chống trầm cảm và theo dõi các triệu chứng xuất hiện trong quá trình giảm thuốc.

Điều trị tốt không có nghĩa là người bệnh phải phụ thuộc vào bác sĩ mãi mãi.
Ngược lại, mục tiêu cuối cùng là giúp người bệnh hiểu căn bệnh của mình, biết cách phòng tái phát và có thể cùng bác sĩ đưa ra quyết định điều trị một cách chủ động.

Vì vậy, nếu một bệnh nhân trầm cảm đã khỏe sau 2–3 tháng, điều tôi mong muốn nhất không phải là họ tiếp tục uống thuốc một cách máy móc.

Mà là họ đừng tự ý dừng thuốc.

Hãy quay lại gặp bác sĩ và hỏi:

«“Bây giờ tôi đã khỏe rồi. Chúng ta cần duy trì điều trị thêm bao lâu, và khi nào thì có thể giảm hoặc ngừng thuốc một cách an toàn?”»

Đó mới là cách kết thúc một đợt điều trị một cách có trách nhiệm.

Bác sĩ vui nhất không phải khi bệnh nhân uống thuốc thật lâu. Bác sĩ vui nhất là khi bệnh nhân hồi phục bền vững, hiểu bệnh của mình và có thể sống một cuộc sống bình thường với nguy cơ tái phát thấp nhất có thể, hay tốt nhất là không bao giờ tái phát nữa.

Khi lo âu biểu hiện bằng hồi hộp, tim đập nhanh và đau đầu ở phụ nữ trung niênTrong thực hành lâm sàng, đặc biệt ở phụ n...
18/08/2026

Khi lo âu biểu hiện bằng hồi hộp, tim đập nhanh và đau đầu ở phụ nữ trung niên

Trong thực hành lâm sàng, đặc biệt ở phụ nữ trung niên, có một nhóm bệnh nhân đến khám không phải vì họ nói rằng “tôi đang lo âu”, mà vì họ cảm thấy cơ thể mình có vấn đề.

Một số biểu hiện hay gặp:

“Bác sĩ ơi, dạo này tim tôi cứ đập nhanh.”

“Tôi thường xuyên hồi hộp, đánh trống ngực.”

“Đầu tôi đau, choáng váng, rất khó chịu.”

“Đặc biệt những ngày thời tiết thay đổi, tôi cảm thấy người rất khác.”

Những triệu chứng này rất dễ khiến người bệnh nghĩ đến bệnh tim mạch, huyết áp, thần kinh hoặc các bệnh lý thực thể khác.

Và tất nhiên, trước những triệu chứng như vậy, việc thăm khám để loại trừ nguyên nhân thực thể là rất cần thiết.

Nhưng trong thực hành tâm thần, chúng tôi cũng gặp không ít trường hợp sau khi đã được đánh giá phù hợp, không tìm thấy nguyên nhân thực thể giải thích đầy đủ mức độ và kiểu xuất hiện của triệu chứng, thì rối loạn lo âu trở thành một chẩn đoán cần được nghĩ tới.

Lo âu không chỉ nằm trong suy nghĩ

Nhiều người vẫn hình dung lo âu là phải “suy nghĩ nhiều”, “lo lắng quá mức” hoặc luôn có một nỗi sợ rõ ràng.

Nhưng lo âu còn có một phần rất lớn biểu hiện ra cơ thể.

Khi hệ thần kinh tự chủ bị kích hoạt, người bệnh có thể xuất hiện hồi hộp, tim đập nhanh, cảm giác tim đập mạnh, run, căng cơ, khó chịu vùng ngực, rối loạn hô hấp, rối loạn tiêu hóa, chóng mặt hoặc nhiều cảm giác cơ thể khác.

Đây chính là lý do có những bệnh nhân dành rất nhiều thời gian để đi khám tim mạch hoặc các chuyên khoa khác trước khi nhận ra rằng lo âu cũng có thể tạo ra những triệu chứng cơ thể rất thật và rất khó chịu.

Hamilton Anxiety Rating Scale (HAM-A) là một trong những thang đánh giá lo âu được sử dụng rộng rãi. Thang gồm 14 mục, đánh giá cả lo âu tâm lý (psychic anxiety) và lo âu cơ thể (somatic anxiety). Nhóm triệu chứng cơ thể bao gồm các biểu hiện về cơ, cảm giác, tim mạch, hô hấp, tiêu hóa, tiết niệu – sinh dục và các triệu chứng thần kinh tự chủ.

Đặc biệt, mục cardiovascular symptoms của HAM-A trực tiếp đánh giá những biểu hiện như nhịp tim nhanh, hồi hộp, đau ngực, cảm giác mạch đập mạnh hoặc cảm giác sắp ngất. Đây chính là những biểu hiện mà nhiều bệnh nhân lo âu đến khám thường mô tả.

Một trường hợp minh họa

Một phụ nữ trung niên đến khám vì nhiều tháng nay thường xuyên hồi hộp, tim đập nhanh, kèm đau đầu, cảm giác khó chịu trong người và ngủ không ngon.

Bệnh nhân nhận thấy các triệu chứng rõ hơn trong những ngày thời tiết thay đổi. Mỗi khi cơ thể xuất hiện cảm giác hồi hộp, bệnh nhân lại lo lắng rằng mình đang mắc một bệnh lý nguy hiểm, từ đó càng chú ý đến nhịp tim và các cảm giác trong cơ thể.

Khi được khai thác kỹ hơn, ngoài những triệu chứng cơ thể, bệnh nhân còn có tình trạng căng thẳng kéo dài, khó thư giãn, dễ bồn chồn và giấc ngủ bị ảnh hưởng.

Bác sĩ sử dụng HAM-A để đánh giá mức độ lo âu. Tổng điểm của bệnh nhân là 41 điểm, thuộc mức rất cao theo các cách phân loại thường được sử dụng cho HAM-A.

Điều đáng chú ý không chỉ nằm ở con số 41.

Khi xem xét từng mục, kết quả lại phản ánh khá sát những gì bệnh nhân đang trải nghiệm trong đời sống hàng ngày: căng thẳng, mất ngủ, các triệu chứng cảm giác và đặc biệt là những biểu hiện cơ thể như hồi hộp, tim đập nhanh và các triệu chứng thần kinh tự chủ.

Đó là giá trị quan trọng của một thang đánh giá lâm sàng: không chỉ cho chúng ta một con số, mà giúp lượng hóa và hệ thống hóa những triệu chứng mà người bệnh đang trải qua.

HAM-A có một ưu điểm rất đáng chú ý

Một trong những điểm mạnh của HAM-A là nó không chỉ hỏi người bệnh về cảm giác lo lắng trong tâm trí.

Nó dành một phần đáng kể để đánh giá các biểu hiện cơ thể của lo âu.

Vì vậy, trong những trường hợp bệnh nhân đến khám chủ yếu với các triệu chứng như hồi hộp, tim đập nhanh, căng cơ, rối loạn cảm giác, khó thở, rối loạn tiêu hóa hoặc các biểu hiện thần kinh tự chủ, HAM-A có thể cung cấp một bức tranh khá toàn diện về mức độ triệu chứng.

Các nghiên cứu về đặc tính tâm trắc học cũng cho thấy HAM-A có độ tin cậy và giá trị hội tụ ở mức chấp nhận được; các nghiên cứu phân tích cấu trúc thường nhận diện được nhóm triệu chứng tâm lý và nhóm triệu chứng cơ thể.

Tuy nhiên, HAM-A không phải công cụ để tự chẩn đoán.

Một điểm cần nhớ là nhiều triệu chứng cơ thể của lo âu cũng có thể gặp trong các bệnh lý nội khoa. Hơn nữa, HAM-A có những hạn chế trong việc phân biệt hoàn toàn lo âu với trầm cảm và các tình trạng khác. Vì vậy, điểm số 41 không thể tự nó chứng minh rằng mọi triệu chứng của bệnh nhân đều do lo âu gây ra. Chẩn đoán vẫn phải dựa trên bệnh sử, khám lâm sàng và đánh giá y khoa toàn diện.

Đôi khi người bệnh không nhận ra mình đang lo âu

Đây là điều tôi gặp khá thường xuyên trong thực hành.

Người bệnh có thể khẳng định:

“Tôi không lo gì cả, chỉ là tim tôi đập nhanh.”

Nhưng khi bác sĩ hỏi kỹ hơn:

- Gần đây chị có thường xuyên căng thẳng không?
- Có khó thư giãn không?
- Có thường xuyên suy nghĩ về sức khỏe không?
- Có mất ngủ không?
- Khi tim đập nhanh, chị có sợ điều gì xảy ra không?
- Các triệu chứng có tăng lên trong những thời điểm stress không?

thì bức tranh lo âu dần xuất hiện.

Điều đó nhắc chúng ta rằng lo âu không phải lúc nào cũng bắt đầu bằng một suy nghĩ rõ ràng.

Đôi khi người bệnh cảm nhận nó đầu tiên qua chính cơ thể mình.

Và một khi người bệnh hiểu được mối liên hệ giữa lo âu và các triệu chứng cơ thể, họ có thể bớt sợ hãi, bớt đi vào vòng xoắn “triệu chứng → sợ hãi → chú ý vào cơ thể → triệu chứng tăng lên”.

Đặc biệt ở phụ nữ trung niên, khi có những thay đổi về giấc ngủ, stress gia đình – công việc và nhiều thay đổi sinh lý theo tuổi, việc đánh giá toàn diện cả thể chất và sức khỏe tâm thần càng có ý nghĩa.

Một trái tim đập nhanh không phải lúc nào cũng là bệnh tim. Một cơn đau đầu không phải lúc nào cũng bắt nguồn từ bệnh lý thần kinh. Và một cơ thể luôn trong trạng thái căng thẳng đôi khi đang nói với chúng ta rằng: người bệnh cần được đánh giá cả về lo âu.

Điều quan trọng là không bỏ qua bệnh lý thực thể, nhưng cũng không bỏ qua sức khỏe tâm thần khi các triệu chứng cơ thể kéo dài và không được giải thích đầy đủ.

Gia đình đồng hành tốt là một nguồn lực vô cùng quan trọng cho quá trình hồi phụcTrong điều trị các rối loạn tâm thần, n...
17/08/2026

Gia đình đồng hành tốt là một nguồn lực vô cùng quan trọng cho quá trình hồi phục
Trong điều trị các rối loạn tâm thần, người bệnh thường được nhắc đến như trung tâm của quá trình điều trị. Nhưng trên thực tế, gia đình là một phần rất quan trọng của môi trường điều trị, đặc biệt khi bệnh kéo dài hoặc người bệnh còn trẻ.
✨TH1: Khi bắt đầu điều trị, khi bệnh nhân chưa hợp thuốc, bị phản ứng, bị tác dụng phụ. Can thiệp tâm lý thì tiến triển quá chậm (dường như không tác dụng nhiều). Thì việc gia đình động viên bệnh nhân, gia đình báo cho Bs tiến triển để điều chỉnh thuốc là vô cùng quan trọng.
✨TH2: Một người đang mắc trầm cảm có thể mất động lực, thu mình, cáu gắt, khó hợp tác hoặc không còn tin rằng mình có thể khỏe lại. Khi ấy, sự hiện diện của một gia đình biết cách đồng hành có thể tạo ra một điểm tựa rất quan trọng.
✨TH3: Gia đình hiểu và chấp nhận, thông cảm với vấn đề bệnh lý của con, tốt hơn nhiều việc CHO RẰNG CON LƯỜI BIẾNG, NÓI DÔI, HAY LÀM TRÒ.

Nghiên cứu cũng đang cho thấy: Gia đình có thể thực sự ảnh hưởng đến kết quả điều trị
Một systematic review và meta-analysis năm 2022 đã tổng hợp 19 thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng, với 1.553 trẻ em và thanh thiếu niên mắc trầm cảm. Khi so sánh những can thiệp tâm lý có sự tham gia của cha mẹ/gia đình với những can thiệp không có sự tham gia của gia đình, nhóm có gia đình tham gia có mức độ triệu chứng trầm cảm sau điều trị tốt hơn, với hiệu quả tuy nhỏ nhưng có ý nghĩa thống kê (d = 0,34; 95% CI 0,07–0,60; p = 0.01). https://bpspsychub.onlinelibrary.wiley.com/doi/10.1111/papt.12392
Điều này rất đáng suy nghĩ.
Bởi với một đứa trẻ đang mắc trầm cảm, cha mẹ không chỉ là người đưa con đến bệnh viện.
Họ là những người:
nhìn thấy những thay đổi của con mỗi ngày;
giúp con duy trì việc điều trị;
nhận biết sớm khi triệu chứng thay đổi;
hỗ trợ con trong những sinh hoạt rất nhỏ;
phối hợp với bác sĩ và nhà trường;
và quan trọng nhất, tạo ra môi trường mà đứa trẻ có thể tiếp tục hồi phục.
Vì vậy, các tác giả của nghiên cứu trên cho rằng sự tham gia phù hợp của cha mẹ có thể cải thiện kết quả điều trị, đồng thời khuyến nghị các nhà lâm sàng thường xuyên cân nhắc vai trò của gia đình trong trị liệu cho trẻ và thanh thiếu niên.

Purpose Depressive disorders in children and adolescents have an enormous impact on their general quality of life. There is a clear need to effectively treat depression in this age group. Effects of...

Sau một ngày dài khám bệnh, tôi càng thêm trân trọng những người làm cha, làm mẹSau một ngày dài khám và điều trị cho ng...
16/08/2026

Sau một ngày dài khám bệnh, tôi càng thêm trân trọng những người làm cha, làm mẹ
Sau một ngày dài khám và điều trị cho người bệnh, tối nay ngồi lại, tôi có một cảm xúc rất rõ ràng: sự tôn trọng và quý mến đặc biệt dành cho những bậc cha mẹ đang đồng hành cùng con mình trong những bệnh lý kéo dài.
Làm cha mẹ vốn đã không dễ.
Nhưng làm cha mẹ của một người con mắc bệnh lâu dài lại là một hành trình hoàn toàn khác.
Bởi đôi khi, họ không chỉ phải đối diện với bệnh của con, mà còn phải đối diện với những thay đổi về tính cách và hành vi mà căn bệnh mang lại.
Một đứa trẻ trước đây vốn hiền lành, gần gũi, có thể trở nên hằn học, dễ cáu gắt, bực bội. Những người thân thiết nhất — lại thường là cha mẹ — đôi khi trở thành những người phải hứng chịu nhiều nhất những cảm xúc tiêu cực ấy.
Có những người con không muốn nói chuyện với bố mẹ.
Có những người dễ nổi giận chỉ vì một câu hỏi rất bình thường.
Có những người phản ứng gay gắt, đóng cửa phòng, từ chối hợp tác hoặc cho rằng bố mẹ không hiểu mình.
Và phía sau tất cả những điều đó, nhiều khi lại là một người đang rất mệt mỏi vì bệnh.
Bệnh kéo dài khiến người bệnh nản lòng.
Điều trị lâu ngày khiến họ mệt mỏi.
Những lần thất vọng vì chưa khỏi bệnh khiến họ mất niềm tin.
Có những lúc chính người bệnh cũng không còn đủ sức để kiên nhẫn với bản thân mình, chứ chưa nói đến việc kiên nhẫn với những người xung quanh.
Nhưng hôm nay, điều khiến tôi thực sự xúc động là những người cha, người mẹ tôi gặp.
Họ vẫn hỗ trợ con mình vô điều kiện.
Dù con cáu gắt, họ vẫn kiên nhẫn.
Dù con từ chối, họ vẫn tìm cách đồng hành.
Dù nhiều lần bị tổn thương bởi chính những lời nói của con, họ vẫn nhẫn nhịn
Họ có thể buồn, có thể mệt, có thể đôi lúc cũng tuyệt vọng.
Nhưng họ cố gắng hạ thấp cái tôi của chính mình xuống.
Không phải vì họ kém cỏi đâu,
Mà bởi họ hiểu rằng lúc này, điều quan trọng nhất không phải là ai đúng, ai sai.
Điều quan trọng hơn là:
✨Làm thế nào để con mình khỏe hơn?
Có lẽ đây là một trong những điều khó nhất của tình yêu thương.
Đó là khi người mình yêu thương không còn giống như trước, Khi những lời nói của con khiến mình tổn thương, mình vẫn cố gắng nhớ rằng: “Đây có thể là một phần của bệnh. Con mình đang rất khó khăn.”
Và đôi khi, yêu thương một người bệnh không phải là làm tất cả mọi thứ thay cho họ.
Mà là kiên nhẫn đồng hành đủ lâu để họ có cơ hội tự đứng dậy.
✨Tất nhiên, sự chịu đựng của cha mẹ cũng cần có giới hạn lành mạnh. Gia đình không nên chấp nhận mọi hành vi gây tổn thương chỉ vì người đó đang mắc bệnh. Nhưng thay vì đối đầu bằng giận dữ, gia đình có thể học cách đặt giới hạn, giữ sự bình tĩnh và tìm kiếm sự hỗ trợ chuyên môn khi cần thiết.
Với tư cách là bác sĩ, tôi càng thấy rõ rằng điều trị bệnh tâm thần không chỉ là câu chuyện giữa bác sĩ và bệnh nhân.
Đằng sau một người bệnh đang cố gắng hồi phục thường có cả một gia đình đang âm thầm chiến đấu cùng họ.
Và đôi khi, sự kiên trì của gia đình chính là một phần rất quan trọng của quá trình điều trị.
✨Tôi hy vọng rằng với sự phối hợp giữa bác sĩ – người bệnh – gia đình, chúng ta không chỉ hướng đến việc giảm triệu chứng, mà còn giúp người bệnh từng bước lấy lại khả năng học tập, làm việc, xây dựng các mối quan hệ và sống một cuộc đời có ý nghĩa hơn.
Bệnh có thể khiến một người thay đổi trong một khoảng thời gian.
Nhưng một giai đoạn bệnh không nhất thiết phải quyết định cả cuộc đời của họ.
Và phía sau hành trình trở lại ấy, thật may mắn nếu người bệnh vẫn có một gia đình đủ kiên nhẫn để nói:
“Không sao. Chúng ta sẽ cùng nhau đi tiếp.”

Address

Số 25, Ngách 1, Ngõ 234 Hoàng Quốc Việt/Nghĩa Đô/Hanoi
Hanoi
000084

Opening Hours

Monday 08:00 - 18:00
Tuesday 08:00 - 18:00
Wednesday 08:00 - 18:00
Thursday 08:00 - 18:00
Friday 08:00 - 18:00
Saturday 09:00 - 18:00

Telephone

+84981424119

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Bác sĩ Nguyễn Viết Chung posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Business

Send a message to Bác sĩ Nguyễn Viết Chung:

Shortcuts

Share