19/06/2026
ĐAU THẮT LƯNG 2026: TỔNG QUAN MỚI NHẤT TỪ JAMA
1. GIỚI THIỆU
- Đau thắt lưng là một trong những vấn đề cơ xương khớp thường gặp nhất trong thực hành lâm sàng.
- Bài định nghĩa đau thắt lưng là đau khu trú dưới bờ sườn và trên nếp lằn mông dưới, có hoặc không kèm đau lan xuống chân.
- Bài nhấn mạnh một điều rất thực tế, phần lớn bệnh nhân đau thắt lưng không có bệnh lý cột sống đặc hiệu nguy hiểm.
2. ĐA SỐ LÀ ĐAU THẮT LƯNG KHÔNG ĐẶC HIỆU
- Khoảng 90% bệnh nhân đến khám vì đau thắt lưng thuộc nhóm đau thắt lưng không đặc hiệu.
- Điều này có nghĩa là đau không liên quan đến các bệnh lý đặc hiệu như:
+ Chèn ép rễ thần kinh thắt lưng.
+ Hẹp ống sống thắt lưng.
+ Gãy đốt sống.
+ Viêm cột sống trục.
+ Nhiễm trùng cột sống.
+ Ung thư cột sống hoặc di căn cột sống.
+ Hội chứng đuôi ngựa.
+ Đau quy chiếu từ thận, tiêu hóa, phụ khoa hoặc mạch máu.
Bài chia đau thắt lưng theo thời gian:
+ Cấp tính: dưới 6 tuần.
+ Bán cấp: 6–12 tuần.
+ Mạn tính: trên 12 tuần.
Cách chia này quan trọng vì tiên lượng và điều trị đau cấp khác với đau mạn.
3. YẾU TỐ NGUY CƠ
- Đau thắt lưng gặp ở cả nam và nữ, nhưng tỷ lệ chuẩn hóa theo tuổi cao hơn ở nữ. Tần suất tăng dần theo tuổi và đạt đỉnh quanh khoảng 85 tuổi.
- Các yếu tố liên quan gồm: Béo phì, triệu chứng trầm cảm, công việc phải nâng vật nặng, hút thuốc, bệnh mạn tính (như đái tháo đường, hen), tiền sử từng đau thắt lưng…
- Điểm đáng chú ý là không xem đau lưng chỉ là “bệnh cơ học”. Các yếu tố tâm lý, nghề nghiệp và xã hội cũng góp phần vào nguy cơ đau kéo dài.
4. CƠ CHẾ BỆNH SINH
- Bài nhấn mạnh rằng trong đau thắt lưng không đặc hiệu, không thể xác định chắc chắn một cấu trúc giải phẫu gây đau.
- Nhiều cấu trúc có thể liên quan: cơ cạnh sống, dây chằng, khớp liên mấu, đĩa đệm, thân đốt sống, mô thần kinh - mạch máu. Nhưng trên thực tế, rất khó nói chắc “đau là do đúng chỗ này”.
- Vì vậy, bài tiếp cận đau thắt lưng theo mô hình sinh học – tâm lý – xã hội:
+ Sinh học: cơ, khớp, dây chằng, đĩa đệm, mô quanh cột sống.
+ Tâm lý: lo âu, trầm cảm, sợ vận động, niềm tin tiêu cực rằng đau là nguy hiểm.
+ Xã hội – nghề nghiệp: công việc nặng, áp lực, ít quyền kiểm soát công việc, bất lợi kinh tế – xã hội.
- Đây là điểm rất quan trọng khi tư vấn bệnh nhân, không nên quy mọi đau lưng cho “thoái hóa”, “phồng đĩa đệm” hay “g*i cột sống”.
5. BIỂU HIỆN LÂM SÀNG
- Bệnh nhân thường đến khám vì: Đau vùng thắt lưng, hạn chế vận động, khó cúi, nâng vật, đi bộ, không chịu được ngồi lâu hoặc đứng lâu, giảm khả năng làm việc và sinh hoạt.
- Đau có thể lan xuống mông hoặc đùi, nhưng trong đau không đặc hiệu thường không theo khoanh da thần kinh rõ ràng.
- Bài cũng nêu rằng khoảng 30% bệnh nhân không nhớ yếu tố khởi phát và 76% từng có một đợt đau thắt lưng trước đó. Triệu chứng thường nặng hơn khi vận động hoặc duy trì tư thế lâu, và giảm khi nghỉ hoặc đổi tư thế.
6. ĐÁNH GIÁ BAN ĐẦU CẦN LOẠI TRỪ BỆNH NGUY HIỂM
- Chẩn đoán đau thắt lưng không đặc hiệu là chẩn đoán sau khi đã loại trừ các nguyên nhân đặc hiệu.
- Bác sĩ cần hỏi: Đau bao lâu? Đau ở đâu, có lan chân không? Đau liên tục hay từng cơn? Yếu tố làm đau tăng hoặc giảm? Có ảnh hưởng đi lại, làm việc, sinh hoạt không? Có từng đau lưng trước đây không? Đã điều trị gì, đáp ứng ra sao? Có sợ vận động, lo âu, trầm cảm, stress công việc không?
- Khám cần tập trung vào: Tư thế, dáng đi, độ cân xứng cột sống. Tầm vận động cột sống. Điểm đau ở xương hay phần mềm cạnh sống. Đứng lên – ngồi xuống, đi lại. Khám thần kinh nếu có đau lan chân: sức cơ, cảm giác, phản xạ.
7. DẤU HIỆU GỢI Ý CHÈN ÉP RỄ HOẶC HẸP ỐNG SỐNG
- Nếu đau lưng kèm đau chân theo khoanh da L4, L5, S1, kèm yếu cơ, giảm cảm giác hoặc giảm phản xạ, cần nghĩ đến chèn ép rễ thần kinh thắt lưng.
- Nghiệm pháp nâng chân thẳng có giá trị sàng lọc:
+ Dương tính khi nâng chân thẳng ở tư thế nằm ngửa gây đau kiểu rễ ở góc 30–70 độ.
+ Nghiệm pháp này nhạy cao nhưng đặc hiệu thấp.
+ Nghiệm pháp nâng chân đối bên ít nhạy hơn nhưng đặc hiệu cao hơn cho thoát vị đĩa đệm.
- Hẹp ống sống thắt lưng thường gợi ý khi:
+ Đau mông, đùi hoặc chân khi đứng/đi bộ.
+ Yếu hoặc đau tăng khi đi.
+ Giảm khi ngồi hoặc cúi gập người.
+ Hay gặp ở người lớn tuổi.
8. DẤU HIỆU CẢNH BÁO CẦN CHÚ Ý
- Bài nhấn mạnh các dấu hiệu cảnh báo nhưng cũng lưu ý rằng từng dấu hiệu đơn lẻ thường có giá trị chẩn đoán hạn chế. Tuy nhiên, một số dấu hiệu làm tăng đáng kể khả năng bệnh nặng.
- Cần nghĩ đến gãy đốt sống khi: Tuổi ≥70.Chấn thương nặng. Loãng xương. Dùng corticoid kéo dài từ 6 tháng trở lên.
- Cần nghĩ đến ung thư cột sống khi có: Tiền sử ung thư, đặc biệt ung thư vú, tiền liệt tuyến, phổi hoặc bệnh ác tính có thể di căn xương.
- Cần nghĩ đến nhiễm trùng cột sống khi có: Sốt. Tiêm chích ma túy. Suy giảm miễn dịch. Nhiễm trùng gần đây. Can thiệp/thủ thuật cột sống gần đây.
- Cần nghĩ đến viêm cột sống trục khi: Đau lưng mạn khởi phát trước 45 tuổi. Cứng lưng buổi sáng trên 30 phút. Đau cải thiện khi vận động nhưng không cải thiện khi nghỉ. Đau mông luân phiên hai bên. Đau làm tỉnh giấc về đêm. Có tiền sử gia đình, vảy nến, viêm khớp, bệnh ruột viêm.
- Cần nghĩ đến hội chứng chùm đuôi ngựa khi có: Bí tiểu hoặc tiểu không tự chủ mới xuất hiện. Tê vùng yên ngựa. Yếu chi dưới tiến triển. Rối loạn đại tiện mới xuất hiện. Đây là nhóm cần MRI khẩn và đánh giá ngoại thần kinh.
9. KHÔNG CHỤP HÌNH ẢNH THƯỜNG QUY
- Một thông điệp rất mạnh của bài: không chụp X-quang, CT hay MRI thường quy cho đau thắt lưng không đặc hiệu nếu không có dấu hiệu cảnh báo.
- Lý do là chụp sớm không cải thiện kết cục, lại dễ phát hiện các bất thường tình cờ như: Thoái hóa đĩa đệm. Phồng đĩa đệm. Thoái hóa khớp liên mấu. Biến đổi mâm tận đốt sống.
- Các hình ảnh này rất phổ biến ở cả người không đau lưng. Bài nêu một nghiên cứu MRI cộng đồng cho thấy bất thường thoái hóa hiện diện ở 77,8% người có đau lưng nhưng cũng có ở 74,4% người không đau lưng.
- Vì vậy, nếu giải thích không khéo, kết quả MRI có thể làm bệnh nhân lo sợ, gán nhầm đau cho “thoái hóa”, dẫn tới xét nghiệm, thuốc, tiêm hoặc phẫu thuật không cần thiết.
10. TIÊN LƯỢNG
- Đau thắt lưng cấp không đặc hiệu thường tự giới hạn. Khoảng 72% hồi phục trong 12 tháng.
- Trong đau cấp, mức đau thường cải thiện rõ trong 6 tuần đầu. Đau bán cấp cũng có xu hướng cải thiện.
- Ngược lại, đau thắt lưng mạn có tiên lượng kém hơn. Chỉ khoảng 42% hồi phục trong 12 tháng và nhiều bệnh nhân còn triệu chứng kéo dài.
- Điểm này giúp giải thích vì sao đau cấp cần trấn an, vận động sớm; còn đau mạn cần chiến lược đa mô thức, không chỉ kê thuốc giảm đau.
11. NGUYÊN TẮC ĐIỀU TRỊ CHUNG
Tất cả bệnh nhân, dù đau cấp hay mạn, đều cần:
+ Được giải thích rằng bệnh nguy hiểm ít khả năng xảy ra nếu không có triệu chứng nguy hiểm
+ Được khuyến khích duy trì hoạt động thể lực.
+ Tránh nằm nghỉ kéo dài.
+ Tiếp tục sinh hoạt và làm việc trong mức chịu được.
+ Tự quản lý triệu chứng.
+ Điều chỉnh hoạt động theo nhịp, tăng dần thay vì dừng hẳn.
- Bài đặc biệt nhấn mạnh thông điệp giáo dục bệnh nhân:Đau là thật, nhưng đau không nhất thiết đồng nghĩa với tổn thương đang tiếp diễn. Dao động đau là thường gặp và không có nghĩa là lưng đang hỏng thêm.
12. ĐIỀU TRỊ ĐAU THẮT LƯNG CẤP KHÔNG ĐẶC HIỆU
12.1. KHÔNG DÙNG THUỐC
- Các biện pháp có thể giúp giảm đau ngắn hạn:Chườm nóng. Nắn chỉnh cột sống. Xoa bóp. Châm cứu.
- Tập luyện có giám sát không được khuyến cáo thường quy trong đau cấp vì hiệu quả hạn chế. Tuy nhiên, bệnh nhân vẫn nên duy trì hoạt động bình thường trong giới hạn chịu được, khác với nằm nghỉ tuyệt đối.
- Vật lý trị liệu sớm có thể có lợi nhỏ ở một số bệnh nhân nguy cơ cao chuyển mạn, nhưng không phải ai đau lưng cấp cũng cần chuyển vật lý trị liệu ngay.
12.2. DÙNG THUỐC
- Khi đau ảnh hưởng nhiều đến chức năng hoặc cần giảm đau nhanh, lựa chọn đầu tay gồm:
+ NSAIDs: ibuprofen, naproxen, celecoxib.
+ Thuốc giãn cơ xương: cyclobenzaprine, tizanidine.
- NSAIDs giúp giảm đau mức độ nhỏ nhưng có ý nghĩa thống kê. Cần thận trọng ở người già, bệnh thận, loét dạ dày, bệnh tim mạch, đang dùng thuốc chống đông hoặc thuốc hạ áp.
- Thuốc giãn cơ có thể giảm đau ngắn hạn nhưng tăng tác dụng phụ như buồn ngủ, chóng mặt, đau đầu, buồn nôn; cần thận trọng ở người cao tuổi, nguy cơ té ngã, bệnh gan thận, dùng thuốc an thần.
12.3. NHỮNG THUỐC KHÔNG NÊN ƯU TIÊN
+ Paracetamol đơn độc: không chứng minh giảm đau tốt hơn placebo.
+ Corticoid toàn thân: không cải thiện đau hoặc chức năng trong đau lưng không đặc hiệu.
+ Diazepam/benzodiazepine: không hiệu quả hơn placebo khi thêm vào naproxen, lại có nguy cơ lệ thuộc và an thần.
+ Opioid: chỉ cân nhắc rất hạn chế, trong đợt đau nặng, gây mất chức năng rõ, không đáp ứng thuốc khuyến cáo; dùng liều thấp, ngắn ngày.
13. ĐIỀU TRỊ ĐAU THẮT LƯNG MẠN KHÔNG ĐẶC HIỆU
- Với đau mạn, điều trị hàng đầu là không dùng thuốc.
13.1. GIÁO DỤC VÀ TỰ QUẢN LÝ
- Bệnh nhân cần hiểu rằng đau kéo dài không nhất thiết do tổn thương mô đang tiếp tục. Đau mạn có thể liên quan đến tăng nhạy cảm hệ thần kinh theo thời gian.
- Cần sửa các niềm tin sai như: “Đau là lưng đang hỏng.”, “Cứ vận động là làm tổn thương nặng hơn.”, “MRI có thoái hóa nghĩa là không thể tập.”, “Phải hết đau hoàn toàn mới được vận động.”
- Mục tiêu thực tế là cải thiện chức năng, quay lại hoạt động có ý nghĩa, ngay cả khi đau chưa biến mất hoàn toàn.
13.2. TẬP LUYỆN
- Tập luyện là trụ cột. Các hình thức có thể gồm: Đi bộ, aerobic. Pilates. Yoga. Giãn cơ. Bài tập ổn định cột sống. Chương trình phối hợp.
- Bài nhấn mạnh không có loại bài tập nào vượt trội tuyệt đối. Nên chọn loại bệnh nhân thích, làm được, tiếp cận được, chi phí phù hợp và có thể duy trì. Một gợi ý trong bài là tổng liều khoảng 20 giờ trong 8–12 tuần để tăng khả năng hiệu quả.
13.3. LIỆU PHÁP TÂM LÝ
CBT và các can thiệp tâm lý giúp giảm đau và giảm tàn tật ở mức nhỏ đến trung bình. Không phải vì đau là “tưởng tượng”, mà vì đau mạn chịu ảnh hưởng bởi sợ vận động, lo âu, né tránh hoạt động, giấc ngủ và cách não xử lý tín hiệu đau.
13.4. CAN THIỆP PHỐI HỢP
- Các mô hình kết hợp giáo dục đau, tiếp xúc vận động tăng dần, thay đổi lối sống và liệu pháp nhận thức – chức năng có thể cải thiện đau và chức năng đến 1 năm.
- Các chương trình phục hồi chức năng đa chuyên ngành phù hợp với bệnh nhân đau mạn, hạn chế chức năng nhiều hoặc thất bại với điều trị ban đầu. Chương trình thường phối hợp: Vận động trị liệu. Hỗ trợ tâm lý – hành vi. Can thiệp nghề nghiệp. Giáo dục đau. Tăng dần hoạt động.
14. THUỐC TRONG ĐAU THẮT LƯNG MẠN
- Thuốc chỉ nên là hỗ trợ khi điều trị không dùng thuốc chưa đủ.
- NSAIDs: Là lựa chọn thuốc hàng đầu nếu cần dùng thuốc. Nhưng cần chọn bệnh nhân kỹ và theo dõi tác dụng phụ tiêu hóa, thận, tim mạch.
- Duloxetine: Có thể giúp giảm đau mức độ nhỏ. Tuy nhiên, khuyến cáo không thống nhất:
+ ACP xem duloxetine là lựa chọn hàng hai.
+ NICE và WHO không khuyến cáo thuốc chống trầm cảm cho đau thắt lưng mạn không đặc hiệu vì lợi ích nhỏ và nguy cơ tác dụng phụ.
- Không khuyến cáo: Paracetamol. Corticoid toàn thân. Thuốc giãn cơ. Gabapentin/pregabalin. Opioid thường quy.
+ Opioid, kể cả tramadol, có thể giảm đau nhưng tăng tác dụng phụ và nguy cơ nghiêm trọng. Nếu dùng, chỉ nên thử ngắn, liều thấp, đánh giá lại thường xuyên. Với bệnh nhân đang dùng opioid dài hạn, bài gợi ý nên cân nhắc giảm liều từ từ khi lợi ích không rõ.
15. CAN THIỆP XÂM LẤN VÀ PHẪU THUẬT
- Bài rất thận trọng với can thiệp xâm lấn trong đau thắt lưng không đặc hiệu.
- Không khuyến cáo thường quy: Tiêm ngoài màng cứng. Tiêm khớp liên mấu. Tiêm thuốc tê và/hoặc corticosteroid tại cột sống. Kích thích tủy sống. Phẫu thuật hàn cột sống. Thay đĩa đệm.
- Đốt sóng cao tần có thể được cân nhắc rất chọn lọc nếu nghi đau từ khớp liên mấu và bệnh nhân đáp ứng tốt với block nhánh trong chẩn đoán, nhưng bằng chứng hiệu quả vẫn chưa chắc chắn.
- Phẫu thuật chỉ nên nghĩ đến sau khi đã điều trị không phẫu thuật đầy đủ, triệu chứng kéo dài ít nhất 1 năm, ảnh hưởng nghiêm trọng sinh hoạt/công việc, và đã trao đổi rõ về lợi ích hạn chế, nguy cơ và bất định lâu dài.
16. KẾT LUẬN
Bài này có vài điểm rất đáng nhớ:
- Đa số đau thắt lưng là không đặc hiệu. Không nên vội quy cho thoái hóa, phồng đĩa đệm hay g*i cột sống.
- Chẩn đoán hình ảnh không phải lúc nào cũng giúp. MRI có thể làm hại gián tiếp nếu khiến bệnh nhân sợ hãi và bị cuốn vào điều trị không cần thiết.
- Đau lưng cấp thường tự cải thiện. Điều trị tốt nhất là trấn an, duy trì vận động, giảm đau hợp lý và tránh nằm nghỉ kéo dài.
- Đau lưng mạn cần cách tiếp cận đa mô thức. Tập luyện, giáo dục đau, tâm lý trị liệu và phục hồi chức năng quan trọng hơn việc chỉ đổi thuốc giảm đau.
- Can thiệp xâm lấn và phẫu thuật không phải hướng chính trong đau thắt lưng không đặc hiệu.
(Bài viết được chia sẻ lại từ Facebook chính thức của BS.CKI Nguyễn Tiến Dũng với sự đồng ý của tác giả. Mọi đơn vị dẫn lại nội dung vui lòng ghi rõ nguồn Medinsights và BS.CKI Nguyễn Tiến Dũng.)
----
📖 MEDINSIGHTS - Tri thức vì sức khoẻ 📖
(Thương hiệu Sách và Tri thức Y học hiện đại thuộc Alphabooks)
Liên hệ: 090 222 9509