Phòng chống Ung thư Phổi

Phòng chống Ung thư Phổi Theo GLOBOCAN 2012, ung thư phổi ở Việt Nam đứng thứ hai, chỉ sau ung thư gan. Phát hiện sớm giúp tăng cơ hội kiểm soát bệnh và sống.
(1)

Con số này nhắc chúng ta cảnh giác: ho kéo dài, khó thở, đau ngực, sụt cân… hãy đi khám sớm.

Lung-MAP: khi nghiên cứu ung thư phổi không còn đi theo lối mònTrong điều trị ung thư phổi, điều quan trọng không chỉ là...
04/05/2026

Lung-MAP: khi nghiên cứu ung thư phổi không còn đi theo lối mòn

Trong điều trị ung thư phổi, điều quan trọng không chỉ là có thuốc mới, mà còn là làm sao đưa thuốc mới đến đúng nhóm bệnh nhân, đúng thời điểm, và kiểm chứng hiệu quả một cách nhanh hơn. Đó là lý do Lung-MAP được nhắc nhiều tại cuộc họp Ủy ban ung thư phổi SWOG mùa xuân 2026.

Lung-MAP không phải là một thử nghiệm đơn lẻ theo kiểu cũ. Đây là một “giao thức mẹ”, tức một nền tảng nghiên cứu lớn, trong đó bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ được phân nhóm theo đặc điểm sinh học của khối u. Ai có dấu ấn phù hợp thì có thể vào nhánh thuốc nhắm trúng đích tương ứng. Ai không có dấu ấn phù hợp vẫn có thể tham gia các nhánh nghiên cứu khác, như thuốc ADC hay các chiến lược miễn dịch.

Điểm đáng chú ý là Lung-MAP tạo ra một hệ sinh thái nghiên cứu khá hoàn chỉnh: có xét nghiệm sinh học, có dữ liệu, có mẫu bệnh phẩm, có sự phối hợp giữa viện nghiên cứu, doanh nghiệp dược, Viện Ung thư Quốc gia Hoa Kỳ và cả FDA. Nói cách khác, đây không chỉ là chuyện thử một loại thuốc, mà là cách tổ chức lại toàn bộ quá trình thử nghiệm thuốc ung thư phổi.

Ý nghĩa thực tế nằm ở tốc độ và quy mô. Các nhánh nghiên cứu có thể được kích hoạt nhanh hơn, tuyển bệnh nhân nhanh hơn, tiếp cận được nhiều trung tâm trên toàn nước Mỹ, đồng thời tăng cơ hội cho các nhóm bệnh nhân đa dạng tham gia. Hàng chục nghiên cứu nhánh, hàng nghìn bệnh nhân được sàng lọc, nhiều chiến lược điều trị mới được kiểm tra trong cùng một nền tảng.

Với bệnh nhân, thông điệp quan trọng là: ung thư phổi ngày nay không còn được nhìn như một bệnh duy nhất. Mỗi khối u có chân dung sinh học riêng. Và những mô hình như Lung-MAP đang giúp y học tiến gần hơn đến mục tiêu điều trị cá thể hóa, nhanh hơn, bài bản hơn và thực tế hơn.

Ung thư phổi đang bước sang một giai đoạn rất khác. Trước đây, khi bệnh nhân có đột biến EGFR dùng thuốc đích rồi kháng ...
04/05/2026

Ung thư phổi đang bước sang một giai đoạn rất khác. Trước đây, khi bệnh nhân có đột biến EGFR dùng thuốc đích rồi kháng thuốc, sau đó qua hóa trị mà bệnh vẫn tiến triển, lựa chọn điều trị thường khá hẹp. Nói thẳng ra là bác sĩ có thuốc để dùng, nhưng không nhiều thuốc thật sự tạo ra khác biệt rõ ràng.

Datopotamab deruxtecan, hay Dato-DXd, xuất hiện trong bối cảnh ấy.

Đây không phải thuốc đích kiểu cổ điển, cũng không phải miễn dịch trị liệu. Nó thuộc nhóm ADC, có thể hiểu đơn giản là kháng thể gắn thuốc độc tế bào. Phần kháng thể giúp nhận diện đích TROP2 trên bề mặt tế bào ung thư, sau đó đưa thuốc hóa chất cực mạnh vào bên trong tế bào ung thư để tiêu diệt nó. Cách làm này giống như không rải bom toàn bộ chiến trường, mà cố gắng đưa chất nổ đến gần mục tiêu hơn.

Điểm đáng chú ý là Dato-DXd đã được FDA phê duyệt nhanh cho bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ có đột biến EGFR, sau khi đã điều trị thuốc nhắm trúng đích EGFR và hóa trị platinum. Đây là chỉ định TROP2-ADC đầu tiên trong ung thư phổi, một dấu mốc không nhỏ.

Trong nghiên cứu TROPION-Lung01, Dato-DXd giúp kéo dài thời gian bệnh không tiến triển so với docetaxel, đặc biệt rõ hơn ở nhóm ung thư phổi không tế bào vảy. Với nhóm EGFR, tín hiệu còn đáng chú ý hơn: nghiên cứu TROPION-Lung05 ghi nhận tỷ lệ đáp ứng khách quan khoảng 43,6%, kiểm soát bệnh gần 80%. Với bệnh nhân đã đi qua thuốc đích và hóa trị, đây là con số đáng để bác sĩ lâm sàng phải quan tâm.

Tuy nhiên, cũng không nên biến một thuốc mới thành “thần dược”. Dato-DXd không có lợi rõ ở ung thư phổi tế bào vảy. Thuốc cũng có độc tính cần theo dõi, đặc biệt là viêm phổi mô kẽ, một biến cố tuy không quá thường gặp nhưng có thể nguy hiểm nếu phát hiện muộn.

Ý nghĩa lớn nhất của Dato-DXd nằm ở chỗ: điều trị ung thư phổi không còn chỉ xoay quanh thuốc đích và miễn dịch. ADC đang trở thành trụ cột thứ ba. Nó mở thêm một cánh cửa cho những bệnh nhân tưởng như đã đi gần hết các lựa chọn quen thuộc.

Với bệnh nhân, điều quan trọng không phải là nghe tên thuốc mới rồi tự đi tìm bằng mọi giá. Điều quan trọng là hiểu rằng y học vẫn đang tiến lên, từng bước một. Có thuốc mới, có dữ liệu mới, nhưng dùng cho ai, ở thời điểm nào, sau phác đồ nào, vẫn phải dựa trên bác sĩ điều trị, mô bệnh học, đột biến gen và thể trạng cụ thể của từng người.

Nguồn: https://oncodaily.com/oncolibrary/lung-oncology/datopotamab-deruxtecannsclc

Bệnh nhân ung thư phổi mang đột biến KRAS G12D hiện vẫn đang mòn mỏi chờ một liệu pháp nhắm trúng đích thật sự hiệu quả....
04/05/2026

Bệnh nhân ung thư phổi mang đột biến KRAS G12D hiện vẫn đang mòn mỏi chờ một liệu pháp nhắm trúng đích thật sự hiệu quả. Câu hỏi đặt ra là: làm sao chúng ta có thể thúc đẩy nhanh hơn các phê duyệt thuốc theo hướng không phụ thuộc loại ung thư, tức dựa trên đặc điểm phân tử của khối u, nhất là trong bối cảnh các phương pháp điều trị hiện nay vẫn còn nhiều hạn chế?

Nguyễn Văn Ánh có tâm thư gửi những người phản đối chanh muối. Bảo xin đừng dựa vào kiến thức dựa vào khoa học để phản đ...
04/05/2026

Nguyễn Văn Ánh có tâm thư gửi những người phản đối chanh muối. Bảo xin đừng dựa vào kiến thức dựa vào khoa học để phản đối, người dân cần kết quả không cần nguyên lý cao siêu, gọi chanh muối là lang băm cũng được phản khoa học cũng được miễn nó giải quyết được vấn đề cho người ta. Tôi đọc câu đừng dựa vào kiến thức mà nghĩ một lúc. Đừng dựa vào kiến thức. Tức là bỏ kiến thức ra rồi dựa vào gì. Dựa vào cảm giác à. Dựa vào comment em uống chanh khỏi viêm họng à. Dựa vào hàng chục ngàn trải nghiệm mà không ai hỏi bao nhiêu người uống xong đau dạ dày bao nhiêu người tiểu ra máu được Ánh bảo tiếp tục uống đó là đào thải.

Ánh hỏi khoa học giúp được gì cho người dân, kết quả là ba mươi năm dạ dày không khỏi, cả đời sống chung với tiểu đường, cứ sốt là kháng sinh hạ sốt. Tôi đọc mấy câu đó mà muốn hỏi lại. Tiểu đường type 2 là bệnh mạn tính do kháng insulin, không có phương pháp nào trên thế giới chữa khỏi hẳn, kể cả chanh muối. Ánh ngụ ý chanh muối chữa được tiểu đường à. Mà hôm trước chính Ánh viết bệnh nhân tiểu đường uống chanh muối liều cao đường huyết tăng vọt rồi bảo đó là công bệnh cơ thể đang sửa chữa tiếp tục uống. Tiểu đường tăng đường huyết mà bảo tiếp tục uống. Tăng đến bao nhiêu thì dừng. Tăng đến hôn mê toan ceton thì dừng à. Hay là hôn mê cũng là đào thải.

Ánh bảo nếu sau khi dùng chanh muối vài chục năm mà có gây hậu quả có lẽ hậu quả đó cũng nhẹ hơn chích tiểu đường hay hàng vốc kháng sinh. Có lẽ. Ánh dùng chữ có lẽ. Tức là Ánh đéo biết. Ánh đoán. Ánh đoán rồi bảo người ta uống vài chục năm dựa trên cái đoán đó. Mà insulin cứu mạng mấy trăm triệu bệnh nhân tiểu đường trên thế giới, trước khi có insulin bệnh nhân tiểu đường type 1 chết trong vài tháng. Ánh gọi cái đó là hậu quả nặng hơn chanh muối. Mà chanh muối chữa được tiểu đường thì ông bốn mươi hai tuổi uống chanh liều cao mỗi ngày sao vẫn chết. Hay ông ấy chưa đủ duyên.

Ánh bảo cái tôi nghề nghiệp khiến bác sĩ không dám thừa nhận sự thật, sợ mất danh xưng mất hình ảnh mất nồi cơm. Nồi cơm. Bác sĩ trực đêm bảy mươi nghìn đồng. Ánh viết bài chanh muối trên Facebook mấy trăm nghìn view. Ai đang giữ nồi cơm đây. Mà Ánh hồi trước bảo hạ sốt bằng đường. Bảo tiểu ra máu là đào thải tiếp tục uống. Bảo uống một lít nước muối hai phẩy năm phần trăm tẩy sỏi gan. Bảo paracetamol là an thần. Bảo kháng sinh chỉ làm vi khuẩn ngủ đông. Mỗi cái đều sai. Mỗi cái đều có thể gây hại. Mà anh ấy bảo đừng dựa vào kiến thức. Đúng rồi. Vì nếu dựa vào kiến thức thì mấy cái trên đều bị bác. Bỏ kiến thức ra thì mấy cái trên mới sống được.

Ánh bảo người dân mất niềm tin vào y học vì y học không giải quyết được vấn đề cho họ buộc họ phải tự tìm con đường khác. Ông 42 tuổi tự tìm con đường khác. Con đường đó là chanh liều cao phơi nắng. Con đường đó dẫn ông ấy vào quan tài. Cu Bơ bảo chết chôn lo gì em. Ánh bảo đừng dựa vào kiến thức. Hai câu đó ghép lại thành một: bỏ kiến thức đi rồi chết thì kệ.

Mà Ánh phán miễn nó giải quyết được vấn đề cho người ta. Tôi cũng muốn hỏi, ông 42 tuổi kia chanh muối giải quyết được vấn đề gì cho ông ấy. Giải quyết vào nghĩa trang à.

Hội chanh muối + chữa bệnh bằng nước lạ...😂
04/05/2026

Hội chanh muối + chữa bệnh bằng nước lạ...😂

Anh Nguyễn Văn Ánh hôm qua viết bài chanh muối có vẻ khoa học lắm. Có pH có acid citric có HCl có ion H⁺. Đọc lên nghe o...
04/05/2026

Anh Nguyễn Văn Ánh hôm qua viết bài chanh muối có vẻ khoa học lắm. Có pH có acid citric có HCl có ion H⁺. Đọc lên nghe oai như luận văn thạc sĩ hoá học. Rồi kết luận acid chanh yếu hơn acid dạ dày nên chanh muối vô hại, muối thừa thì thận đào thải, hàng chục ngàn trải nghiệm tốt là bằng chứng từ thực tiễn. Tôi đọc mà nghĩ hồi trước anh ấy bảo hạ sốt bằng đường, hôm kia bảo tiểu ra máu là đào thải tiếp tục uống, hôm nay phang pH ion H⁺. Mỗi bài mỗi kiểu nhưng chung một đích nói chanh muối là thánh dược.

Mà cái logic acid chanh yếu hơn acid dạ dày nên vô hại nó sai ở chỗ nào. Dạ dày có acid HCl đúng nhưng dạ dày cũng có lớp nhầy bảo vệ niêm mạc. Khi viêm dạ dày khi loét khi trào ngược khi sau hoá trị khi dùng thuốc giảm đau NSAID thì lớp nhầy đó mỏng đi hoặc hỏng. Lúc đó đổ thêm nước chanh đậm đặc vào lúc đói thì xót thì đau thì buồn nôn. Anh ấy bảo dạ dày có acid rồi nên thêm acid không sao. Giống bảo nhà có lửa trong bếp rồi nên châm thêm lửa ở phòng khách cũng đéo sao.

Rồi anh ấy kể trải nghiệm uống một lít nước muối hai phẩy năm phần trăm tẩy sỏi gan làm sạch đại tràng. Một lít nước muối hai phẩy năm phần trăm. Tức là hai mươi lăm gram muối trong một lít. WHO khuyến cáo người trưởng thành dùng dưới năm gram muối mỗi ngày. Anh ấy nốc hai mươi lăm gram trong một lần. Gấp năm lần khuyến cáo. Rồi tiêu chảy ồ ạt gọi là tẩy sỏi gan. Cái đó không phải tẩy sỏi. Cái đó là tiêu chảy thẩm thấu. Muối đậm đặc kéo nước vào ruột gây tiêu chảy, giống cơ chế của thuốc nhuận tràng thẩm thấu. Bệnh nhân tăng huyết áp bệnh thận suy tim người già mà uống một lít muối hai phẩy năm phần trăm thì huyết áp tăng vọt giữ nước phù tim quá tải. Anh ấy gọi cái đó là thanh lọc.

Mà anh ấy phán hàng chục ngàn trải nghiệm tốt là bằng chứng thực tiễn đáng tin hơn chuyên gia. Hàng chục ngàn. Hàng chục ngàn người comment em uống chanh khỏi viêm họng. Mà viêm họng tự khỏi sau bảy đến mười ngày dù uống gì. Hàng chục ngàn người nói tốt mà không ai hỏi bao nhiêu người uống xong đau dạ dày bao nhiêu người tăng huyết áp bao nhiêu người tiểu ra máu rồi được anh Ánh bảo tiếp tục uống đó là đào thải. Người nói tốt thì comment. Người gặp hại thì im. Người chết thì đéo comment được. Cái đó trong thống kê gọi là survivorship bias (thiên lệch do chỉ nhìn vào những trường hợp còn sống). Anh ấy gọi là bằng chứng thực tiễn.

Hồi trước anh ấy bảo hạ sốt bằng đường. Rồi bảo tiểu ra máu là đào thải. Rồi bảo tiểu đường tăng là công bệnh tiếp tục uống. Hôm qua bảo uống một lít nước muối tẩy sỏi gan. Mỗi bài thằng anh leo thang thêm một nấc. Cu Bơ bán chanh muối. Cu Quân bán thảo dược tiêu u. Anh Ánh ban phát phác đồ thanh lọc. Mỗi người một sản phẩm nhưng chung một chiêu, triệu chứng nào cũng gọi là thải, ai phản biện thì gọi là giáo khoa, chết thì chưa đủ duyên.

Người mẹ không được phép bỏ cuộc..Có người nhắn cho chị một câu, đại ý là chữa làm gì nữa, còn cơ hội đâu, cố quá rồi cũ...
04/05/2026

Người mẹ không được phép bỏ cuộc..

Có người nhắn cho chị một câu, đại ý là chữa làm gì nữa, còn cơ hội đâu, cố quá rồi cũng chỉ mang nợ về cho chồng con và gia đình.

Chị đọc xong, không buồn, không trách. Chị nói chị thậm chí còn cảm ơn, vì ít nhất người đó đã dừng lại đọc câu chuyện của chị.

Tôi nghĩ mãi về câu trả lời đó. Có một loại bình tĩnh không phải do chai lì, mà do người ta đã nhìn rõ mình đang đứng ở đâu và đang giữ điều gì.

Chị bị ung thư. Hai đứa con còn nhỏ. Những lúc chị mệt lả sau cơn đau, nằm đó không còn sức, các con vẫn lại gần. Bàn tay nhỏ nắm chặt tay mẹ.

Chị nói chính khoảnh khắc đó chị biết mình không được phép bỏ cuộc.

Đây không phải câu chuyện về sự dũng cảm theo nghĩa người ta hay dùng, kiểu như người bệnh phải mạnh mẽ, phải lạc quan, phải truyền cảm hứng. Đây là câu chuyện về một phép tính rất đơn giản mà chỉ người trong cuộc mới làm được: nếu còn một cơ hội dù mong manh, và nếu bỏ qua cơ hội đó có nghĩa là không còn được ở bên con, thì không có gì để tính toán thêm nữa.

Sai một bước, không còn cơ hội quay lại. Đứng yên, cũng không dám chọn. Vậy thì chỉ còn một hướng.

Người ta hay nói về gánh nặng tài chính của điều trị ung thư như một lý do để cân nhắc có nên tiếp tục hay không. Đó không phải lập luận vô lý, nhà nào cũng có giới hạn, và không ai muốn để lại cho gia đình một khoản nợ thay vì một người thân còn sống.

Nhưng có một điều mà người đứng ngoài thường không tính đến: người mẹ nhìn vào mắt con và thấy con cần mình, cái nhìn đó không nằm trong bảng tính chi phí lợi ích nào cả. Nó nằm ở chỗ khác hoàn toàn.

Chị nói chị chấp nhận đánh đổi tất cả. Bán những gì đang có. Gánh những khoản nợ dài lâu. Đi xin từng sự giúp đỡ nhỏ từ người thân, bạn bè, từ những người không quen biết trên mạng, góp lại thành một cơ hội được tiếp tục sống.

Chị không gọi đó là cố chấp. Chị gọi đó là bám vào tia sáng cuối cùng còn nhìn thấy.

Tôi không biết kết cục của câu chuyện này sẽ ra sao. Không ai biết. Y học không hứa được điều đó với bất kỳ ai.

Nhưng tôi biết một điều, khi quyết định tiếp tục điều trị của chị không phải quyết định của người không hiểu thực tế. Đó là quyết định của người hiểu rất rõ thực tế, nhìn thẳng vào nó, và vẫn chọn bước tiếp.

Có những lúc lý trí và tình cảm không mâu thuẫn nhau. Chúng cùng chỉ về một hướng.

Với chị, hướng đó là ở lại.

Anh Nguyễn Văn Ánh hôm nay viết hướng dẫn dùng chanh muối dài như phác đồ điều trị. Bắt đầu một hai quả hai trăm mililít...
04/05/2026

Anh Nguyễn Văn Ánh hôm nay viết hướng dẫn dùng chanh muối dài như phác đồ điều trị. Bắt đầu một hai quả hai trăm mililít nước ấm muối hạt tối màu, tăng dần đến khi tháo như tháo cống thì đạt ngưỡng thanh lọc. Tôi đọc chữ tháo như tháo cống mà phải dừng lại vì trong y khoa tiêu chảy ồ ạt kiểu tháo cống là mất nước mất điện giải, nặng thì tụt huyết áp trụy mạch nhập viện truyền dịch. Anh ấy gọi cái đó là đạt ngưỡng thanh lọc. Giống thằng xe đang cháy mà bảo đạt ngưỡng toả nhiệt.

Mà cái phần biểu hiện đào thải mới đéo chịu nổi. Anh ấy liệt kê: đại tiện màu đen dịch nhầy mùi hôi tanh. Mồ hôi nhớt mùi tanh nồng. Tiểu tiện màu vàng thậm chí đỏ gụ có cặn trắng đục. Da mẩn ngứa. Mắt nhoè. Ho dồn dập. Tiểu đường tăng hơn bình thường. Đau lại những chỗ tưởng đã khỏi. Trong y khoa, phân đen là dấu hiệu xuất huyết tiêu hoá trên cần nội soi cấp cứu. Tiểu đỏ gụ là dấu hiệu tiểu máu cần siêu âm thận bàng quang loại trừ sỏi u bướu nhiễm trùng. Tiểu đường tăng là mất kiểm soát đường huyết cần chỉnh thuốc ngay kẻo hôn mê toan ceton. Mắt nhoè có thể là biến chứng võng mạc do đường huyết dao động. Mỗi cái trong danh sách đó bác sĩ đọc xong đều bảo đi cấp cứu hoặc đi khám ngay. Anh Ánh bảo tiếp tục duy trì ở mức đó khi nào hết đào thải thì giảm về một hai trái.

Tức là bệnh nhân tiểu đường đang uống chanh muối liều cao, đường huyết tăng vọt, anh Ánh bảo đó là công bệnh cơ thể đang sửa chữa tiếp tục uống. Bệnh nhân tiểu ra máu anh Ánh bảo đó là đào thải qua tiểu tiện tiếp tục uống. Bệnh nhân đi phân đen anh Ánh bảo đó là xả rác trong cơ thể tiếp tục uống. Anh ấy biến tất cả dấu hiệu nguy hiểm thành dấu hiệu tích cực. Giống cu Huy bảo uống chanh liều cao thiếu máu phát bệnh da là thải độc qua da đó là việc tốt. Giống cu Bơ bảo tiêu chảy sau uống chanh muối là xả cái thừa. Chúng nó có chung một chiêu là triệu chứng nào cũng gọi là thải. Đau là thải. Tiêu chảy là thải. Tiểu máu là thải. Đường huyết tăng là thải. Chết chắc cũng là thải nốt. Cu Bơ đã nói rồi mà. Chết chôn lo gì em.

Mà anh Ánh ghi lưu ý: đau do công bệnh diễn ra từ từ âm ỉ khác với đau phá huỷ, chỉ người trải nghiệm qua mới hiểu không có ngôn từ nào diễn tả được mỗi người hãy tự cảm nhận. Tự cảm nhận. Bệnh nhân đang tiểu ra máu tự cảm nhận xem đau đó là công bệnh hay phá huỷ. Bệnh nhân đang đi phân đen tự cảm nhận xem xuất huyết tiêu hoá hay đào thải. Bệnh nhân tiểu đường đường huyết tăng vọt tự cảm nhận xem hôn mê toan ceton hay thanh lọc. Tự cảm nhận. Bác sĩ học sáu năm đọc xét nghiệm nội soi chụp chiếu mới dám chẩn đoán. Anh Ánh bảo tự cảm nhận. Hồi trước anh Ánh bảo hạ sốt bằng đường. Hôm nay bảo tiểu ra máu là đào thải. Mỗi bài anh leo thang thêm một nấc.

Tôi vẫn nghĩ đến ông bốn mươi hai tuổi chắc cũng tự cảm nhận. Cảm nhận chanh liều cao đang thanh lọc. Cảm nhận phơi nắng đang thải độc. Cảm nhận đến ngày cuối cùng. Rồi không còn cảm nhận gì nữa. Cu Bơ bảo chết chôn lo gì em. Anh Ánh bảo mỗi người hãy tự cảm nhận. Hai câu khác nhau mà nghĩa giống nhau..chết thì tự chịu.

ROS1 trong ung thư phổi: không chỉ cần thuốc mạnh, mà còn cần thuốc vào được nãoTrong ung thư phổi không tế bào nhỏ giai...
04/05/2026

ROS1 trong ung thư phổi: không chỉ cần thuốc mạnh, mà còn cần thuốc vào được não

Trong ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn di căn, ROS1 dương tính là một nhóm không nhiều, nhưng rất quan trọng. Lý do không chỉ vì nhóm này có thuốc nhắm trúng đích, mà còn vì bệnh có thể di căn não. Khi đã nói đến di căn não, câu chuyện điều trị không còn đơn giản là thuốc làm khối u ngoài phổi nhỏ đi bao nhiêu, mà còn phải hỏi thêm một câu rất thực tế: thuốc có kiểm soát được tổn thương trong não hay không.

Một bảng so sánh các thuốc đã được cấp phép cho ung thư phổi di căn ROS1 dương tính. Có 5 thuốc được đặt cạnh nhau: taletrectinib, repotrectinib, entrectinib, crizotinib và ceritinib.

Nhìn vào bảng này, có thể thấy sự thay đổi rất rõ của điều trị đích. Các thuốc đời cũ như crizotinib và ceritinib từng là bước tiến lớn, nhưng khả năng đi vào hệ thần kinh trung ương còn hạn chế hơn. Trong khi đó, các thuốc mới hơn được thiết kế theo hướng mạnh hơn, bền hơn và kiểm soát não tốt hơn.

Điểm nổi bật nhất trên bảng là taletrectinib. Thuốc này cho tỷ lệ đáp ứng toàn thân khoảng 89,8%, thời gian sống thêm không bệnh tiến triển trung vị khoảng 46,1 tháng, và tỷ lệ đáp ứng trong não khoảng 76,5% ở nhóm chưa dùng TKI trước đó. Nói dễ hiểu, đây là nhóm dữ liệu cho thấy thuốc không chỉ có tác dụng ngoài não, mà còn có tín hiệu rất tốt với di căn não. FDA đã phê duyệt taletrectinib cho người lớn bị ung thư phổi không tế bào nhỏ ROS1 dương tính tại chỗ tiến triển di căn xa vào tháng 6 năm 2025.

Repotrectinib cũng là một thuốc rất đáng chú ý. Thuốc có tỷ lệ đáp ứng toàn thân khoảng 79%, PFS trung vị khoảng 35,7 tháng, và đáp ứng trong não khoảng 72%. Một ưu điểm quan trọng là thuốc có hoạt tính với một số đột biến kháng thuốc, ví dụ G2032R. FDA đã phê duyệt repotrectinib cho ung thư phổi ROS1 dương tính tiến xa hoặc di căn từ tháng 11 năm 2023, bao gồm cả bệnh nhân chưa dùng TKI và bệnh nhân đã từng dùng TKI ROS1 trước đó.

Entrectinib đứng ở vị trí trung gian. Thuốc có hiệu quả toàn thân tốt, tỷ lệ đáp ứng khoảng 77%, PFS trung vị khoảng 19,3 tháng, và có hoạt tính trong não ở mức vừa phải. Đây vẫn là một lựa chọn có giá trị, nhất là trong bối cảnh điều trị đích ROS1 đã được dùng rộng hơn qua nhiều năm.

Ngược lại, crizotinib và ceritinib là các thuốc thế hệ cũ hơn. Crizotinib có tỷ lệ đáp ứng toàn thân khoảng 72%, nhưng đáp ứng trong não chỉ khoảng 33 đến 37%, kèm nguy cơ tiến triển trong hệ thần kinh trung ương cao hơn. Ceritinib có hiệu quả trong não còn hạn chế hơn, khoảng 21 đến 25%, và độc tính toàn thân cũng là vấn đề cần cân nhắc.

Với bệnh nhân, thông điệp quan trọng không phải là thuốc nào nghe mới nhất thì tự động tốt nhất. Điều quan trọng là phải đặt đúng câu hỏi. Người bệnh đã từng dùng thuốc ROS1 nào chưa. Có di căn não hay không. Di căn não đã xạ trị chưa. Có đột biến kháng thuốc như G2032R không. Thể trạng, chức năng gan thận, bệnh đi kèm và khả năng dung nạp thuốc ra sao. Chính những yếu tố đó mới quyết định lựa chọn điều trị.

Dữ liệu này cũng cho thấy một xu hướng rất rõ của ung thư học hiện đại, điều trị không chỉ nhắm vào gen, mà phải nhắm vào toàn bộ tình huống lâm sàng. Cùng là ROS1 dương tính, nhưng bệnh nhân có di căn não sẽ cần chiến lược khác bệnh nhân không có di căn não. Bệnh nhân mới điều trị sẽ khác bệnh nhân đã kháng thuốc. Bệnh nhân trẻ, khỏe sẽ khác bệnh nhân thể trạng yếu hoặc có men gan cao.

Tóm lại, ROS1 dương tính là một nhóm ung thư phổi có nhiều lựa chọn điều trị đích. Nhưng lựa chọn tối ưu không chỉ dựa vào tên thuốc. Các thuốc mới như taletrectinib và repotrectinib đang cho thấy ưu thế rõ về kiểm soát não và thời gian kiểm soát bệnh, trong khi các thuốc cũ như crizotinib và ceritinib có vai trò lịch sử nhưng hạn chế hơn ở hệ thần kinh trung ương. Với bệnh nhân Việt Nam, điều quan trọng nhất vẫn là làm xét nghiệm gen đầy đủ, đánh giá não bằng hình ảnh học khi cần, và trao đổi với bác sĩ ung bướu để chọn thuốc phù hợp nhất với tình trạng cụ thể của mình.

KRAS G12C trong ung thư phổi: một mục tiêu từng rất khó, nay đang bước vào giai đoạn rất đáng theo dõiTại một phiên báo ...
03/05/2026

KRAS G12C trong ung thư phổi: một mục tiêu từng rất khó, nay đang bước vào giai đoạn rất đáng theo dõi

Tại một phiên báo cáo tại Inaugural Lung Cancer US Focus Meeting, diễn ra ngày 1 đến 2 tháng 5 năm 2026. Trên màn hình là phần tóm tắt hiệu quả của sotorasib, một thuốc nhắm trúng đích dành cho bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ có đột biến KRAS G12C.

Điểm quan trọng nằm ở chỗ này: KRAS G12C từng được xem là một đột biến rất khó đánh trúng bằng thuốc. Trước đây, khi bệnh nhân ung thư phổi có KRAS, bác sĩ thường chủ yếu dựa vào hóa trị, miễn dịch hoặc phối hợp tùy tình huống. Nhưng với sự xuất hiện của các thuốc như sotorasib và adagrasib, KRAS G12C đã chuyển từ một dấu ấn khó xử lý thành một mục tiêu có thể điều trị.

Trên slide có nói dữ liệu từ CodeBreaK 100 và CodeBreaK 200 cho thấy sotorasib có hoạt tính rõ ràng. Tỷ lệ đáp ứng khối u khoảng 37% trong CodeBreaK 100 và 28% trong CodeBreaK 200. Thời gian sống thêm không bệnh tiến triển trung vị khoảng 6,8 tháng và 5,6 tháng. Thời gian sống thêm toàn bộ trung vị lần lượt khoảng 12,5 tháng và 10,6 tháng. Nói đơn giản, thuốc có thể giúp một phần bệnh nhân kiểm soát bệnh thêm một thời gian, nhưng chưa phải là câu chuyện chữa khỏi.

Phần tác dụng phụ cũng rất đáng chú ý. Các biểu hiện thường gặp gồm tiêu chảy, buồn nôn, mệt mỏi và tăng men gan. Tác dụng phụ độ nặng từ độ 3 trở lên khoảng 35%, trong đó tăng men gan ALT và AST là vấn đề cần theo dõi sát. Điều này nhắc chúng ta rằng thuốc đích không có nghĩa là thuốc nhẹ hoàn toàn. Điều trị hiện đại vẫn phải đi cùng xét nghiệm đúng, chọn bệnh nhân đúng và theo dõi đúng.

Câu nói KRAS G12C đang rất sôi động trước các kết quả quan trọng sắp tới là hoàn toàn có cơ sở. Vì hiện nay câu hỏi không còn là có nhắm trúng KRAS G12C được hay không. Câu hỏi thực tế hơn là nên dùng thuốc ở bước nào, có nên phối hợp với miễn dịch không, bệnh nhân nào hưởng lợi nhiều nhất, và làm sao vượt qua tình trạng kháng thuốc.

Với bệnh nhân, thông điệp cần hiểu rất rõ: nếu ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn tiến xa, xét nghiệm gen là việc rất quan trọng. Một kết quả như KRAS G12C có thể mở thêm lựa chọn điều trị. Nhưng mỗi lựa chọn đều cần được đặt trong bối cảnh cụ thể của người bệnh, gồm thể trạng, PD-L1, di căn não, chức năng gan thận, các thuốc đã dùng trước đó và khả năng tiếp cận thuốc tại Việt Nam.

KRAS G12C là một tiến bộ thật. Nhưng tiến bộ thật khác với phép màu. Nó cho thêm cơ hội, không cho phép chủ quan.

KRAS G12C trong ung thư phổi: từ “khó trị” đến có thuốc nhắm trúng đíchTrong ung thư phổi không tế bào nhỏ, có một nhóm ...
03/05/2026

KRAS G12C trong ung thư phổi: từ “khó trị” đến có thuốc nhắm trúng đích

Trong ung thư phổi không tế bào nhỏ, có một nhóm bệnh nhân mang đột biến gen KRAS G12C. Trước đây, KRAS từng được xem là mục tiêu rất khó can thiệp bằng thuốc. Nói nôm na, tế bào ung thư có công tắc KRAS bị kẹt ở trạng thái hoạt động, khiến khối u tiếp tục phát triển, nhưng y học nhiều năm không tìm được cách khóa công tắc này.

Điều đó đã thay đổi khi các thuốc ức chế KRAS G12C ra đời, tiêu biểu là sotorasib và adagrasib. Đây là bước tiến quan trọng vì từ chỗ gần như không có thuốc đích riêng, bệnh nhân ung thư phổi mang KRAS G12C đã có thêm một lựa chọn điều trị sau khi đã dùng các phác đồ trước đó. Trong các nghiên cứu, những thuốc này cho thấy có thể làm khối u nhỏ lại ở một tỷ lệ đáng kể bệnh nhân, đồng thời kéo dài thời gian kiểm soát bệnh so với một số điều trị kinh điển.

Tuy nhiên, cần nói cho rõ, đây không phải thuốc chữa khỏi ung thư. Lợi ích có thật, nhưng không phải vĩnh viễn. Sau một thời gian, nhiều khối u vẫn tìm được đường lách thuốc và bệnh có thể tiến triển trở lại. Vì vậy, câu chuyện hiện nay không còn là “KRAS G12C có nhắm trúng được không”, mà là dùng thuốc khi nào, kết hợp với thuốc gì, và bệnh nhân nào có khả năng hưởng lợi nhiều nhất**.

Một hướng rất đáng chú ý là đưa thuốc KRAS G12C lên điều trị bước một, tức là dùng sớm hơn, thay vì đợi bệnh nhân đã qua nhiều phác đồ. Nghiên cứu KRYSTAL-7 đang đánh giá phối hợp adagrasib với pembrolizumab, một thuốc miễn dịch, ở bệnh nhân ung thư phổi KRAS G12C giai đoạn tiến triển di căn xa. Kết quả ban đầu khá hứa hẹn, đặc biệt ở nhóm có PD-L1 cao, nhưng vẫn cần dữ liệu pha III để khẳng định trước khi coi đây là chuẩn điều trị mới.

Điểm phải theo dõi kỹ là tác dụng phụ, nhất là tăng men gan khi phối hợp thuốc đích với miễn dịch. Với bệnh nhân, điều này có nghĩa là không nên tự hiểu thuốc mới đồng nghĩa với nhẹ nhàng hơn hay an toàn tuyệt đối. Điều trị ung thư hiện đại là cá thể hóa, nhưng vẫn phải dựa trên xét nghiệm gen, thể trạng, chức năng gan thận, bệnh đi kèm và theo dõi sát trong quá trình dùng thuốc.

Một yếu tố khác cũng rất quan trọng là các đột biến đi kèm như STK11 và KEAP1. Cùng là KRAS G12C, nhưng nếu khối u có thêm các biến đổi này, đáp ứng điều trị có thể kém hơn. Vì thế, xét nghiệm gen trong ung thư phổi không chỉ để tìm một đột biến, mà để hiểu bản đồ sinh học của khối u.

Tóm lại, KRAS G12C là một ví dụ điển hình cho tiến bộ của ung thư học hiện đại. Một mục tiêu từng bị xem là gần như không thể đánh trúng, nay đã có thuốc. Nhưng tiến bộ không nên bị hiểu thành phép màu. Thuốc đích KRAS G12C mở thêm cơ hội, đặc biệt cho bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ có đột biến phù hợp, song hiệu quả còn phụ thuộc vào đúng người bệnh, đúng thời điểm, đúng phối hợp và theo dõi đúng cách.

Nguồn: https://oncodaily.com/oncolibrary/lung-oncology/kras-g12c-inhibitors

Ở ung thư phổi không tế bào nhỏ có đột biến ALK, thuốc đích ALK TKI vẫn là nền tảng điều trị quan trọng nhất, đặc biệt ở...
03/05/2026

Ở ung thư phổi không tế bào nhỏ có đột biến ALK, thuốc đích ALK TKI vẫn là nền tảng điều trị quan trọng nhất, đặc biệt ở bước một. Tuy nhiên, một điểm đáng chú ý là không phải bệnh nhân nào cũng kiểm soát bệnh được lâu như nhau.

Nghiên cứu trên 130 bệnh nhân cho thấy tỷ lệ đáp ứng ban đầu khá giống nhau, khoảng 82%, dù PD-L1 cao hay thấp. Nói cách khác, khi bắt đầu dùng thuốc đích, khối u của nhiều bệnh nhân vẫn nhỏ lại hoặc được kiểm soát tốt.

Nhưng khác biệt nằm ở thời gian bệnh không tiến triển. Nhóm có PD-L1 ≥50% có thời gian kiểm soát bệnh trung vị chỉ khoảng 11 tháng, trong khi nhóm PD-L1 thấp hơn đạt khoảng 21 tháng. Nguy cơ bệnh tiến triển cao hơn rõ rệt, với HR 2,29.

Điều này không có nghĩa là PD-L1 cao làm thuốc đích ALK mất tác dụng ngay từ đầu. Dữ liệu tiền lâm sàng cho thấy PD-L1 không trực tiếp làm tế bào ung thư kém nhạy với thuốc ALK TKI.
Khả năng hợp lý hơn là môi trường miễn dịch quanh khối u, tức hệ sinh thái bao quanh tế bào ung thư, có thể khiến bệnh dễ thoát khỏi kiểm soát sớm hơn.

Đối với bệnh nhân nếu ung thư phổi có ALK dương tính, điều trị đích vẫn là lựa chọn ưu tiên. PD-L1 cao không nên khiến bệnh nhân tự chuyển sang miễn dịch đơn thuần, vì nhóm ALK thường đáp ứng kém với miễn dịch so với các nhóm khác. Nhưng PD-L1 cao có thể là tín hiệu cần theo dõi sát hơn, đánh giá đáp ứng định kỳ và chuẩn bị chiến lược điều trị tiếp theo khi bệnh tiến triển.

Address

Hanoi

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Phòng chống Ung thư Phổi posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share