28/12/2024
7. CƠ THỂ ĐƯỢC THIẾT KẾ NHƯ THẾ NÀO? (PHẦN 1)
Thật kỳ lạ phải không? Chúng ta có thể dành cả ngày để tìm hiểu chiếc điện thoại mới, nghiên cứu từng tính năng để sử dụng nó hiệu quả. Nhưng khi nói đến cơ thể của chính mình – món quà quý giá mà tạo hóa ban tặng – chúng ta lại dễ dàng bỏ qua việc hiểu về nó một cách sâu sắc. Cơ thể con người, trong ánh sáng của y học cổ truyền, không chỉ là một tập hợp của các cơ quan vật chất mà còn là một chỉnh thể sống động, hài hòa giữa khí, huyết và thần. Mỗi bộ phận, mỗi dòng chảy của năng lượng trong cơ thể đều có lý do tồn tại và vai trò riêng biệt, góp phần duy trì sự sống, cùng nhau kết nối để tạo thành một hệ thống quản lý thông minh nhất của tự nhiên. Hãy cùng tôi khám phá thiết kế tuyệt hảo của bộ máy cơ thể này để biết cách nuôi dưỡng, điều chỉnh và phát huy sức mạnh của nó, để sống khỏe mạnh, tràn đầy năng lượng và đạt được sự hài hòa trong cuộc sống.
I. HỌC THUYẾT TẠNG PHỦ
Tạng là các bộ phận cơ thể có nhiệm vụ chuyển hoá và tàng trữ tinh, khí, thần, huyết, tân, dịch. Có 5 tạng: tâm (phụ là tâm bào lạc), can, tỳ, phế, thận. Phủ là các bộ phận của cơ thể có nhiệm vụ thu nạp, tiêu hoá, hấp thụ, chuyển vận các chất từ đồ ăn uống và bài tiết các chất cặn bã của cơ thể ra ngoài. Có 6 phủ: đởm, vị, tiểu đường, đại trường, bàng quang và tam tiêu.
1. Tạng Tâm
Tạng tâm đứng đầu các tạng, có tâm bào lạc bảo vệ bên ngoài, phụ trách các hoạt động về thần chí, huyết mạch, khai khiếu ra lưỡi biểu hiện ra ở mặt.
❤️ Chủ về thần chí
Thần chí là các hoạt động về tinh thần, tư duy. Tinh và huyết là cơ sở cho hoạt động tinh thần, mà tâm lại chủ về huyết nên tâm cũng chủ về chí, tâm là nơi cư trú của thần vì vậy nói là “tâm tàng thần”.
Tâm khí và tâm huyết đầy đủ thì tinh thần sáng suốt, tỉnh táo. Tâm huyết không đầy đủ xuất hiện các triệu chứng bệnh như: hồi hộp, mất ngủ, hay mê, hay quên. Tâm huyết có nhiệt thì có thể thấy mê sảng, hôn mê v.v…
❤️ Chủ về huyết mạch, biểu hiện ra ở mặt
Tâm khí thúc đẩy huyết dịch trong mạch đi nuôi dưỡng toàn thân. Nếu tâm khí đầy đủ, huyết dịch vận hành không ngừng, toàn thân được nuôi dưỡng tốt, biểu hiện ở nét mặt hồng hào tươi nhuận, trái lại tâm khí bị giảm sút, sự cung cấp huyết dịch kém đi thì sắc mặt xanh xao, có khi huyết dịch bị ứ trệ gây các chứng mạch sáp, kết lại, ứ huyết v.v…
❤️ Khai khiếu ra lưỡi
Biệt lạc của tâm thông ra lưỡi, khí huyết của tâm đi ra lưỡi để duy trì hoạt động của chất lưỡi. Trên lâm sàng xem chất lưỡi để chẩn đoán bệnh ở tâm: như chất lưỡi đỏ là tâm nhiệt, chất lưỡi nhạt là tâm huyết hư, chất lưỡi xanh có điểm ứ huyết là huyết ứ trệ v.v...
❤️Tâm bào lạc
Là tổ chức bên ngoài của tâm để bảo vệ không cho tà khí xâm nhập vào tâm. Trên thực tế lâm sàng các triệu chứng của bệnh của tâm và tâm bào lạc giống nhau: như trong bệnh truyền nhiễm có sốt (ôn bệnh) chứng hôn mê được gọi là “nhiệt nhập tâm bào” giống như chứng hôn mê của tâm nhiệt.
1.2. Tạng Can
🩸 Chủ về tàng huyết
Tàng huyết là tàng trữ về điều tiết lượng máu trong cơ thể. Lúc nghỉ ngơi, lúc ngủ nhu cầu về huyết dịch ít, máu được tàng trữ ở can; trái lại lúc hoạt động, lao động nhu cầu dinh dưỡng của cơ thể đòi hỏi cao hơn, can lại bài xuất khối lượng máu dự trữ để cung cấp kịp thời.
Chức năng tàng huyết của can bị rối loạn sẽ ảnh hưởng đến các tạng phủ và sinh các triệu chứng bệnh: như can huyết không đầy đủ thấy hoa mắt, chóng mặt, chân tay co quắp, kinh nguyệt ít có thể bế kinh…Can khí bị xúc động, huyết đi lạc đường, có thể thấy các hiện tượng xuất huyết như nôn ra máu, chảy máu cam, băng huyết, rong huyết…
🩸 Chủ về sơ tiết
Sơ tiết là sự thư thái, thông thường còn gọi là “điều đạt”. Can khí chủ về sơ tiết giúp cho sự vận hành của khí các tạng phủ được dễ dàng, thông suốt, thăng giáng được điều hoà. Can khí sơ tiết kém sẽ có những biểu hiện bệnh lý đặc biệt ở tình chí và sự tiêu hoá.
Về tình chí, ngoài tạng tâm đã nêu ở trên, còn do tạng can phụ trách. Can khí bình thường, thì khí huyết vận hành điề hoà, tinh thần thoải mái.Trái lại can huyết sơ tiết kém sẽ gây tình trạng khí bị uất kết hay hưng phấn quá độ. Can khí uất kết biểu hiện: ngực sườn đầy tức, u uất, hay thở dài, kinh nguyệt không đều, thống kinh…Can khí xung thịnh gây cáu gắt, hoa mắt, chóng mặt, ù tai…
Về tiêu hoá: sự sơ tiết của can có ảnh hưởng lớn đến sự thăng giáng của tỳ vị. Nếu can khí uất kết hay can khí hoành nghịch có thể thấy các triệu chứng đau cạnh sườn, đau thượng vị, ăn kém, ợ hơi, ợ chua, ỉa chảy gọi là chứng “can tỳ bất hoà” hay “can vị bất hoà”…
🩸 Chủ cân, vinh nhuận ra móng tay, móng chân
Cân là cân mạch gồm các khớp, gân, cơ, phụ trách việc vận động của cơ thể. Nói can chủ cân tức là can nuôi dưỡng các cân bằng huyết của can (can huyết: can huyết đầy đủ, cân mạch được nuôi dưỡng tốt, vận động tốt, trái lại can huyết hư sẽ gây các chứng tê bại, chân tay run, co quắp, teo cơ, cứng khớp…Nếu sốt cao, huyết dịch hao tổn không dưỡng cân gây co giật, tay chân co quắp.
Móng tay móng chân là chỗ thừa của cân mạch, nên tình trạng thiếu đủ của can huyết sẽ có những biểu hiện hồng nhuận cứng cáp hay nhợt tái thay đổi hình dạng (móng tay uốn khum)
🩸 Khai khiếu ra mắt
Tinh khí của ngũ tạng thông qua huyết dịch đều đi lên mắt, nhưng chủ yếu là do tạng can vì can tàng huyết và kinh can đi lên mắt
Can khí thực do phong nhiệt gây chứng mắt đỏ, sưng, đau; can huyết hư gây quáng gà, giảm thị lực. Can phong nội động gây miệng méo, mắt lác..
1.3. Tạng Tỳ
🫦Chủ về vận hoá: tỳ chủ về vận hoá đồ ăn và thuỷ thấp
- Vận hoá đồ ăn: là sự tiêu hoá, hấp thu và vận chuyển các chất dinh dưỡng của đồ ăn. Sau khi tiêu hoá, các chất tinh vi được tỳ hấp thu và chuyển vận lên phế, phế đưa vào tâm mạch để đi nuôi dưỡng các tạng phủ, tứ chi, cân, não. Công năng vận hoá đồ ăn của tỳ mạnh gọi là sự “kiện vận” thì sự hấp thu tốt trái lại nếu tỳ mất “kiện vận” sẽ gây các chứng rối loạn tiêu hoá: ăn kém, ỉa chảy, mệt mỏi, gầy…
- Vận hoá thuỷ thấp: tỳ đưa nước đến các tổ chức cơ thể để nuôi dưỡng, sau đó chuyển xuống thận ra bàng quang bài tiết ra ngoài. Như vậy việc chuyển hoá chuyển hoá nước trong cơ thể do sự vận hoá của tỳ phối hợp với sự túc giáng của phế và sự khí hoá của thận. Sự vận hoá thuỷ thấp của tỳ kém sẽ gây chứng đàm ẩm, khiến cho nước tràn ra tứ chi gây phù thũng, xuống đại trường gây ỉa chảy, đến khoang bụng thành cổ trướng…
🫦 Thống huyết
Thống huyết hay còn gọi là nhiếp huyết có nghĩa là quản lý, khống chế huyết. Sự vận hoá đồ ăn của tỳ là nguồn gốc của khí và huyết, nhưng tỳ còn thống huyết. Tuỳ khí mạnh huyết sẽ đi trong mạch, được khí thúc đẩy đi nuôi dưỡng cơ thể, trái lại tỳ khí hư sẽ không thống được huyết, huyết sẽ ra ngoài gây các chứng xuất huyết như rong huyết, đại tiện ra máu lâu ngày…
🫦 Chủ cơ nhục, chủ tứ chi
Tỳ đưa các chất dinh dưỡng của đồ ăn đến nuôi dưỡng cơ nhục, nếu tỳ khí đầy đủ sẽ làm cho cơ nhục rắn chắc, tứ chi nhẹ nhàng linh hoạt; trái lại nếu tỳ khí yếu sẽ làm thịt mềm, trương lực cơ giảm gây tứ chi mệt mỏi, gây các chứng thoát vị: như sa trực tràng, sa sinh dục, sa dạ dày…
🫦Khai khiếu ra miệng, vinh nhuận ra môi
Khai thiếu ra miệng là nói về sự ăn uống, khẩu vị
Tỳ mạnh thì muốn ăn, ăn ngon miệng, nếu tỳ hư thì chán ăn, miệng nhạt. Tỳ chủ về cơ nhục, lại khai khiếu ra miệng nên biểu hiện sự vinh nhuận ra môi: tỳ mạnh thì môi hồng thuận, tỳ hư thì môi thâm xám, nhạt màu.
1.4. Tạng Phế
Phế chủ hô hấp, chủ khí, có tác dụng tuyên phát và túc giáng, khai khiếu ra mũi và bên ngoài hợp với bì mao (da lông)
🫁 Chủ khí, chủ hô hấp
Phế là nơi trao đổi khí: hít thanh khí, thải trọc khí nên nói phế chủ hô hấp. Phế chủ khí, vì phế có liên quan đến tông khí. Tông khí được tạo thành bởi khí của đồ ăn do tỳ khí đưa tới kết hợp với khí trời do phế khí đưa tới, tông khí được đưa vào tâm mạch đi toàn thân dinh dưỡng tổ chức. Phế khí bình thường, đường hô hấp thông, thì hơi thở điều hoà; trái lại phế khí hư kém xuất hiện chứng khó thở, thở nhanh, tiếng nói nhỏ, người mệt mỏi không có sức…
🫁Chủ về tuyên phát và túc giáng
-Tuyên phát: có ý nghĩa là thúc đẩy sự tuyên phát của phế (gọi tắt là sự tuyên phế) thúc đẩy, khí huyết, tân dịch phân bố ra toàn thân, bên trong đi vào các tạng phủ, kinh lạc, ngoài đi tới, bì mao, cơ nhục, không nơi nào không đến. Nếu phế khí không tuyên thì sẽ gây sự ủng trệ có các triệu chứng như tức ngực, ngạt mũi, khó thở…
- Túc giáng là đưa phế khí đi xuống: phế khí đi xuống là thuận, nếu phế khí nghịch lên trên uất tại phế sẽ có các triệu chứng: khó thở, suyễn tức..
🫁 Phế chủ bì mao thông điều thuỷ đạo
- Bì mao là phần ngoài cùng của cơ thể gồm da, lông, tuyến mồ hôi, là nơi tà khí bên ngoài bắt đầu xâm nhập vào cơ thể. Tác dụng tuyên phát phế đem các chất dinh dưỡng cho bì mao. Vệ khí cũng tuyên phát ra bì mao để chống đỡ ngoại tà. Vì vậy khi có bệnh ở phần biểu thường thấy xuất hiện các chứng ở vệ và phế phối hợp với nhau như ngoại cảm phong hàn: sợ lạnh, sợ gió, ngạt mũi, ho…
Nếu phế khí hư yếu, không tuyên phát ra bì mao làm da lông khô sáp, lưa thưa đưa tới cơ năng bảo vệ của bì mao bị giảm sút nên dễ bị cảm mạo…
- Phế còn tác dụng thông điều thuỷ đạo. Nhờ tác dụng tuyên phát và túc giáng, nước trong ở cơ thể được bài tiết ra bằng đường mồ hôi, hơi thở, đại tiện như chủ yếu là do nước tiểu. Phế khí đưa nước tiểu xuống thận, ở thận nước tiểu được khí hoá một phần đưa xuống bàng quang và bài tiết ra ngoài.
Trên lâm sàng bệnh phù thũng do phong thuỷ (viêm cầu thận do lạnh) được chữa bằng phương pháp tuyên phế lợi niệu.
🫁 Khai khiếu ra mũi, thông với họng, chủ về tiếng nói
Mũi là hơi thở của phế, để thở và ngửi thông qua tác dụng của phế khí. Phế khí bình thường thì sự hô hấp điều hoà, nếu phế khí trở ngại như ngoại tà xâm nhập thì gây ngạt mũi, chảy nước mũi, không ngửi thấy mùi, phương pháp chữa bệnh vẫn lấy tuyên phế là chính.
Phế còn chủ về tiếng nói và thông ra họng. Bệnh ở phế luôn thấy xuất hiện các chứng ở họng và tiếng nói và thông ra họng mất tiếng…
1.5. Tạng Thận
🧠 Thận tàng tinh, chủ về sinh dục và phát dục của cơ thể
Tinh của tiên thiên và tinh của hậu thiên đều được tàng trữ ở thận gọi là thận tinh. Tinh biến thành khí nên còn có thận khí.
Thận tinh còn gọi là thận dương, nguyên dương, chân dương, mệnh môn hoả. Thận tinh và thận khí quyết định sự sinh dục và phát dục của cơ thể từ lúc nhỏ tới già như mọc răng, tuổi trưởng thành sinh con cái (gọi là thiên quý thịnh) và lão suy (thiên quý suy)
Thận âm và thận dương, nương tựa vào nhau, chế ước lễ nhau giữ thế bình quân về âm dương. Nếu thận hư không có hiện tượng hàn hay nhiệt thì gọi là thận tinh hư hay thận khí hư. Nếu có hiện tượng nội nhiệt là do thận âm hư. Nếu có hiện tượng ngoại hàn (sợ lạnh, tay chân lạnh) là do thận dương hư.
👂 Chủ về khí hoá nước.
Thận khí có chức năng khí hoá nước tức là đem nước do đồ ăn uống đưa tới nước cho tổ chức cơ thể và bài tiết nước ra ngoài.
- Sự chuyển hoá nước trong cơ thể do 3 tạng phụ trách: tỳ vận hoá hấp thu đưa lên phế, phế túc giáng xuống thận, ở thận được khí hoá những chất trong (có ích) được lên phế phân bố đi toàn thân, những chất đục được đưa xuống bàng quang thải ra ngoài.
Vì vậy trên lâm sàng, căn cứ vào vị trí trở ngại, người ta chữa chứng phù thũng ở tỳ, ở phế hay ở thận.
👂 Chủ về xương, tuỷ, thông với não và vinh nhuận ra tóc
Tinh được tàng trữ ở thận,tinh sinh tuỷ, tuỷ vào trong xương, nuôi dưỡng xương, nên gọi là thận chủ cốt sinh tuỷ. Nếu thận hư, làm sự phát dục của cơ thể giảm sút gây hiện tượng chậm mọc răng, chậm biết đi, xương mềm yếu…
Tuỷ ở cột sống lên não, thận sinh tuỷ, nên gọi là thận thông với não, không ngừng bổ sung tinh tuỷ cho não. Thận hư (thường do thiên nhiên) làm não không phát triển sinh các chứng: trí tuệ chậm phát triển,tinh thần đần độn, kém sự thông minh…
Huyết do tinh sinh ra, tinh tàng trữ ở thận, tóc là sản phẩm “thừa ra” của huyết, được huyết nuôi dưỡng, vì vậy thận là căn nguyên sinh ra tóc. Sự thịnh suy của thận có quan hệ mật thiết với tóc như bẩm sinh thận khí bất túc thì tóc mọc thưa thớt, thanh niên khoẻ mạnh thì tóc tốt nhuận, người già thận khí yếu thì tóc bạc, rụng tóc….vì vậy nói: thận vinh nhuận ra ở tóc.
👂 Nạp khí
Không khí do phế hít vào được giữ lại ở thận gọi là sự nạp khí của thận
Nếu thận hư không nạp được phế khí làm phế khí nghịch lên gây chứng ho hen, khó thở. Trên lâm sàng người ta chữa chứng hen suyễn, chứng ho ở người già, bằng phương pháp bổ thận nạp khí.
👂 Khai khiếu ra tai và tiền âm, hậu âm
Tai do thận tinh nuôi dưỡng, thận hư sẽ gây tai ù, tai điếc. Ở người già thận khí, thận tinh suy yếu nên hay gặp chứng tù tai, điếc.
Tiền âm là nơi bài tiết nước tiểu, bộ phận sinh dục nam hay nữ, thận chủ về khí hoá bài tiết nước tiểu và sự sinh dục vì vậy gọi là thận chủ về hậu âm. Thận hư hay gặp chứng đi tiểu luôn ở người già, chứng đái dầm ở trẻ em chứng di tinh, ra khí hư…
Hậu âm là nơi đại tiện ra phân, do tạng tỳ đảm nhiệm. Nhưng tỳ dương được thận khí hoá để bài tiết phân ra ngoài nên còn gọi là thận chủ về hậu âm. Nếu thận khí hư hay gặp chứng đại tiện lỏng, đại tiện ở người già.
Hậu âm và tiền âm thường quản lý đại tiện và tiểu tiện nên còn nói “thận chủ nhị tiện”.
6. Đởm (Mật)
Đởm có quan hệ biểu lý với can, chứa chất mật (tinh chấp) do can bài tiết. Cổ nhân cho rằng: “khí thừa của can tràn vào mật, tụ lại thành tinh chấp”. Mật có vai trò quan trọng trong việc tiêu hóa đồ ăn, giúp chuyển hóa thức ăn từ dạ dày qua các cơ quan tiêu hóa tiếp theo. Chất mật có màu xanh, vàng và vị đắng. Khi có bệnh ở đởm, thường xuất hiện các triệu chứng như vàng da, miệng đắng, nôn mửa ra chất đắng.
Đởm còn có chức năng về tinh thần, chủ về quyết đoán, có ảnh hưởng đến khả năng đưa ra quyết định nhanh chóng và chính xác. Mối quan hệ giữa can và đởm, trong đó can chủ về mưu lự, còn đởm chủ về quyết đoán, tạo nền tảng cho lòng dũng cảm, tinh thần giám nghĩ giám làm. Các bệnh liên quan đến can và đởm thường xảy ra phối hợp với nhau, đặc biệt là trong các chứng bệnh về tiêu hóa hoặc rối loạn tâm lý như lo âu, căng thẳng.
7. Vị
Vị có nhiệm vụ chứa đựng và làm nhừ đồ ăn, chuyển chúng xuống tiểu trường, nơi tiếp tục quá trình tiêu hóa. Tỳ và vị có liên quan biểu lý, cùng hỗ trợ quá trình vận hóa đồ ăn, vì vậy được gọi chung là “gốc của hậu thiên”. Tỳ, với chức năng chuyển hóa thức ăn thành khí và huyết, và vị, với nhiệm vụ xử lý thực phẩm, kết hợp chặt chẽ để duy trì sự sống. Khí của tỳ vị, hay còn gọi là “vị khí”, có vai trò tiên đoán sự phát triển của bệnh và dự đoán kết quả chữa trị. Người xưa thường nói: “vị khí là gốc của con người”, “còn vị khí sẽ sống, hết vị khí sẽ chết”. Vì vậy, bảo vệ vị khí là nguyên tắc quan trọng trong chữa bệnh của YHCT, đồng thời giúp duy trì sự khỏe mạnh, giảm thiểu các rối loạn tiêu hóa, đầy bụng, hoặc mệt mỏi do thiếu khí.
8. Tiểu trường
Tiểu trường có nhiệm vụ phân thanh, giáng trọc. Thanh (chất trong) là chất tinh vi của đồ ăn được hấp thụ ở tiểu trường và nhờ sự vận hóa của tỳ đưa đi nuôi dưỡng toàn thân. Cặn bã sẽ được đưa đến bàng quang để bài tiết qua ngoài. Trọc (chất đục) là cặn bã của đồ ăn được tiểu trường đưa xuống đại trường. Tiểu trường có vai trò quan trọng trong việc duy trì sự cân bằng trong cơ thể, giúp loại bỏ các chất thừa và chỉ giữ lại các dưỡng chất cần thiết. Khi tiểu trường bị bệnh, việc phân thanh giáng trọc bị trở ngại, gây ra các chứng như sống phân, ỉa chảy, tiểu tiện ít, đầy bụng, hay đau bụng. Các bệnh lý của tiểu trường có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe tổng thể, gây suy kiệt sức lực và giảm khả năng tiêu hóa.
9. Đại trường
Đại trường có nhiệm vụ chứa đựng và bài tiết các chất cặn bã, đồng thời hấp thụ nước và muối khoáng từ thức ăn đã được tiêu hóa. Đại trường có quan hệ biểu lý với phế, trong đó phế giúp điều hòa và phân phối khí huyết, hỗ trợ sự vận hành của đại trường. Đại trường còn đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì sự thăng bằng của cơ thể, nhất là trong quá trình bài tiết và hấp thu. Khi đại trường bị bệnh, sự bài tiết cặn bã có thể gặp trở ngại, dẫn đến các triệu chứng như táo bón, tiêu chảy, hoặc cảm giác bụng đầy, khó chịu.
10. Bàng quang
Bàng quang chứa đựng và bài tiết nước tiểu thông qua sự khí hóa và phối hợp với tạng thận. Thận, với vai trò chủ về sinh lực và duy trì sự sống, có ảnh hưởng lớn đến khả năng của bàng quang trong việc điều chỉnh lượng nước tiểu bài tiết. Nếu sự khí hóa của thận không tốt, sẽ gây ra các chứng bệnh như bí tiểu tiện, đái dắt, tiểu tiện nhiều lần hoặc tiểu tiện không tự chủ. Bàng quang cũng có mối quan hệ chặt chẽ với hệ thống tuần hoàn và thần kinh, giúp duy trì sự cân bằng của các yếu tố nội môi. Vì vậy, việc duy trì chức năng của bàng quang là rất quan trọng trong việc đảm bảo sức khỏe toàn diện.
11. Tam tiêu
Tam tiêu gồm thượng tiêu, trung tiêu và hạ tiêu.
🩸Thượng tiêu: Từ miệng xuống tâm vị dạ dày, có tạng tâm và phế. Thượng tiêu chịu trách nhiệm cho sự tiếp nhận và phân phối khí huyết, giúp cơ thể chuyển hóa thức ăn và khí vào máu.
🩸Trung tiêu: Từ tâm vị dạ dày đến môn vị, có tạng tỳ và phủ vị. Trung tiêu là nơi quyết định quá trình tiêu hóa thức ăn và chuyển hóa chúng thành khí huyết, giúp duy trì sự sống và phát triển cơ thể.
🩸Hạ tiêu: Từ môn vị dạ dày xuống hậu môn, có tạng can và thận. Hạ tiêu có vai trò quan trọng trong việc duy trì sự trao đổi chất, lọc các chất thừa và bài tiết các sản phẩm của quá trình tiêu hóa. Các bệnh lý của tam tiêu có thể gây rối loạn tiêu hóa, gây ảnh hưởng đến sức khỏe tổng thể và khả năng hấp thu dưỡng chất.
Sự hoạt động của tam tiêu biểu hiện ở sự khí hoá và sự vận chuyển đồ ăn, ở thượng tiêu: Phế chủ hô hấp, phân bố khí và chất dinh dưỡng vào huyết mạch được tâm khí đưa đi toàn thân; ở trung tiểu tỳ vị vận hoá hấp thu đồ ăn và đưa nước lên phế, ở hạ tiêu có sự phân biệt thanh trọc, tinh tàng trữ ở thận, các chất cặn bã được thải ra ngoài bằng đường đại tiện và tiểu tiện.
Người ta còn nói tam tiêu chủ việc bảo vệ các tạng phủ trong cơ thể.
😊Kiến thức này có thể hơi trừu tượng, khó hiểu một chút, đúng không? Bạn hãy kiên nhẫn nghiên cứu kỹ và chờ đón các nội dung tiếp theo để hiểu thêm nhé!