Cây Thuốc Việt

Cây Thuốc Việt Nghiên cứu, phát triển Các sản phẩm TPCN và thuốc từ thảo dược quý

TẦM NHÌN:
Bằng trí tuệ của đội ngũ chuyên gia hàng đầu trong ngành dược liệu Việt Nam, kết hợp nền tảng văn hóa Việt Nam về đông y, với y học hiện đại và công nghệ bào chế tiên tiến đẳng cấp quốc tế, Công ty Cổ phần Cây thuốc và Hương liệu Việt cam kết nghiên cứu, phát triển và cung cấp các sản phẩm thuốc, thực phẩm chức năng và các hợp chất tự nhiên từ nguồn thảo dược quý giá nhất của Việt Nam ch

o sức khỏe cộng đồng. TUYÊN NGÔN: Mang giá trị thiên nhiên vào cuộc sống
NHIỆM VỤ FANPAGE:
Phát triển cộng đồng người tiêu dùng thông minh sử dụng các sản phẩm thảo dược để nâng cao sức khỏe, vẻ đẹp, trí thông minh, sức đề kháng, khả năng sinh lý... để phòng và hỗ trợ điều trị các bệnh như ung thư, tim mạch, suy giảm trí nhớ, suy giảm miễn dịch cùng nhiều bệnh khác; tăng cường sức khỏe, khả năng làm việc, khả năng sáng tạo...
LANGAMBIAN.VN:
Cung cấp và bán lẻ tất cả các sản phẩm chiết xuất từ Lan Gấm, là vua thảo dược trong số các loại thảo dược được dùng làm thuốc hiện nay
DUOCLIEUVASUCKHOE.COM:
Phát triển cộng đồng các nhà khoa học nghiên cứu chuyên sâu về thảo dược Việt Nam
Giới thiệu các nghiên cứu khoa học chất lượng cao: Chính thống, cập nhật về các loại thảo dược

TÁC DỤNG HẠ HUYẾT ÁP CỦA VỪNG ĐENA. Nghiên cứu và kết quả của nghiên cứua. Mô tả nghiên cứu:+ Ba mươi người trưởng thành...
27/05/2026

TÁC DỤNG HẠ HUYẾT ÁP CỦA VỪNG ĐEN
A. Nghiên cứu và kết quả của nghiên cứu
a. Mô tả nghiên cứu:
+ Ba mươi người trưởng thành Thái Lan bị tiền tăng huyết áp (huyết áp tâm thu 120–139 hoặc huyết áp tâm trương 80–89) được chọn ngẫu nhiên.
+ Mỗi ngày được cho dùng: 2,52 g/ngày bột vừng đen dạng viên nang (hoặc giả dược có hình thức giống hệt)
+ Thời gian dùng: trong bốn tuần.
Nghiên cứu mù đôi. Không ai trong số họ đang dùng thuốc hạ huyết áp. Điểm cuối cùng: Huyết áp, cùng với hai chỉ số sinh học — Malondialdehyde (MDA, một chỉ dấu của stress oxy hóa) và Vitamin E trong huyết thanh.
b. Kết quả nghiên cứu:
+ Huyết áp tâm thu giảm 8,2 mmHg ở nhóm dùng vừng đen (129,3 → 121,0), trong khi nhóm dùng giả dược hầu như không thay đổi. P < 0,05. (Lưu ý về đơn vị: huyết áp được báo cáo bằng milimét thủy ngân — mmHg
+ Nồng độ MDA giảm một phần ba ở nhóm dùng vừng đen (1,8 → 1,2 μmol/L), không thay đổi ở nhóm dùng giả dược. P < 0,05.
+ Nồng độ vitamin E tăng 30% ở nhóm dùng vừng đen (29,4 → 38,2 μmol/L), không thay đổi ở nhóm dùng giả dược. P < 0,01.
+ Trong nhóm dùng vừng đen, sự thay đổi huyết áp tâm thu (SBP) tương quan với sự thay đổi MDA (R = 0,50), và sự thay đổi huyết áp tâm trương (DBP) tương quan nghịch với sự thay đổi vitamin E (R = -0,55). Các chỉ số sinh học biến đổi cùng chiều với kết quả lâm sàng, theo hướng mà giả thuyết chống oxy hóa dự đoán.
+ Không phát hiện tác dụng phụ nào.
Bạn cần biết rằng: Liệu pháp đơn trị liệu hạ huyết áp tiêu chuẩn ở liều khởi đầu thông thường của các loại thuốc hạ huyết áp thông thường như: thuốc lợi tiểu thiazide, thuốc ức chế ACE, thuốc chẹn thụ thể angiotensin II, thuốc chẹn kênh canxi cũng chỉ tạo ra sự giảm huyết áp tâm thu trong khoảng từ 7 đến 13 mmHg.
Như vậy, giảm 8,2 mmHg là mức độ đáng kể về mặt dược phẩm .
Không phải là "sự cải thiện nhỏ do bổ sung". Cũng không phải là "xu hướng tích cực". Nó nằm trong phạm vi hiệu quả mà chúng ta chấp nhận là có ý nghĩa lâm sàng và kê đơn thuốc.
B. Các cơ chế sinh học chính mà không một loại thuốc hạ huyết áp nào có được:
1. Giảm thiểu căng thẳng oxy hóa (Con đường chính)
Hạt vừng đen cực kỳ giàu lignan tan trong chất béo — chủ yếu là sesamin và sesamolin — cũng như gamma-tocopherol (Vitamin E) .
+ Việc tiêu thụ vừng đen làm tăng nồng độ vitamin E trong máu đồng thời giảm malondialdehyde (MDA) , một chỉ số quan trọng của quá trình peroxy hóa lipid và tổn thương tế bào.
+ Giảm stress oxy hóa giúp ngăn ngừa sự phân hủy oxit nitric (NO), một phân tử quan trọng có chức năng hướng dẫn các mạch máu giãn nở và duy trì tính linh hoạt.
2. Tăng cường hoạt động của enzyme nitric oxide synthase nội mô (eNOS)
Các nghiên cứu về lignan chính, sesamin, cho thấy nó tác động trực tiếp lên nội mô mạch máu (lớp lót bên trong của mạch máu). Nó làm tăng biểu hiện của enzyme eNOS , thúc đẩy hoạt tính sinh học tổng thể của oxit nitric trong động mạch chủ và cải thiện sự giãn mạch máu do acetylcholine gây ra.
3. Ức chế ACE tự nhiên
Như đã được chứng minh trong các nghiên cứu về chuyển hóa và protein gần đây, protein thủy phân trong hạt vừng đen tạo ra các peptide hoạt tính sinh học cụ thể (như ITAPHW và IRPNGL ). Các phân tử này hoạt động như chất ức chế enzyme chuyển đổi angiotensin (ACE) tự nhiên . Chúng ngăn chặn cơ thể sản sinh angiotensin II, một chất hóa học mạnh thường làm thu hẹp mạch máu và đẩy huyết áp lên cao.
4. Đồng điều hòa hàm lượng Magie và Canxi cao
Một khẩu phần tiêu chuẩn hạt vừng đen chưa bóc vỏ chứa hàm lượng cao các chất magiê và canxi đáp ứng nhu cầu hàng ngày . Magiê hoạt động như một chất ức chế kênh canxi tự nhiên, ngăn chặn lượng canxi dư thừa xâm nhập vào các tế bào cơ trơn mạch máu, cho phép các cơ trơn xung quanh động mạch thư giãn và giãn nở.
5. Điều chỉnh hồ sơ chuyển hóa
Phân tích chuyển hóa huyết thanh không định hướng tiên tiến cho thấy các hợp chất trong vừng làm thay đổi quá trình tổng hợp axit mật chính và chuyển hóa purin. Bằng cách giảm các chỉ số viêm toàn thân và nồng độ axit uric trong huyết thanh, vừng giúp giảm thiểu rối loạn chức năng nội mô và hạn chế tổn thương lâu dài cho mô tim và thận.
Câu chuyện về cơ chế không phải là “chúng tôi tìm thấy một phân tử có thể ức chế một triệu chứng”. Mà là “chúng tôi cho mọi người ăn một loại thực phẩm và sự cân bằng oxy hóa khử của họ chuyển sang trạng thái cân bằng nội môi, và huyết áp của họ cũng giảm theo”.
Một đánh giá có hệ thống về tác dụng của hạt vừng đối với huyết áp cũng cho biết năm nghiên cứu lâm sàng khác đã quan sát thấy sự cải thiện đáng kể về huyết áp.
Và Vừng đen không chỉ có thế, một nghiên cứu năm 2012 báo cáo rằng, trong số 38 người có mỡ máu cao, khi tiêu thụ 40 gam hạt vừng đã bóc vỏ mỗi ngày trong hai tháng, đã quan sát thấy mức cholesterol LDL giảm 10% và mức triglyceride giảm 8%, tương ứng, so với nhóm dùng giả dược.
Những lợi ích rất tốt cho sức khỏe nêu trên của vừng đủ để bạn nên bổ sung nó vào thực đơn của bạn.
Nguồn:
+ Wichitsranoi J, Weerapreeyakul N, Boonsiri P, et al. “Antihypertensive and antioxidant effects of dietary black sesame meal in pre-hypertensive humans.” Nutrition Journal 2011, 10:82. DOI: 10.1186/1475-2891-10-82. PMID: 21827664.
Full text (open access):
https://nutritionj.biomedcentral.com/articles/10.1186/1475-2891-10-82
PubMed Central mirror:
https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC3173298/
+ Sesame and cardiovascular balance: a GRADE-assessed systematic review and meta-analysis of its role in modulating risk factors among individuals with prehypertension and hypertension
Helia Mardani ,1 Faezeh Ghalichi ,2 Zahra Mirzaei Fashtali ,3 Sara Jamei Ardakany ,4 Matin Abdollahi Yousefabady ,5 Arefeh Mohajerani ,1,6

It has been known that hypertension is an independent risk factor for cardiovascular disease (CVD). CVD is the major cause of morbidity and mortality in developed and developing countries. Elevation of blood pressure (BP) increases the adverse effect ...

20/05/2026

TẠI SAO NÓI CĂNG THẲNG GÓP PHẦN GÂY RA CỤC MÁU ĐÔNG?
LÀM THẾ NÀO ĐỂ NGĂN NGỪA HÌNH THÀNH CỤC MÁU ĐÔNG?
1. Căng thẳng tâm lý hoặc cảm xúc gây tăng tiết Cortisol
Khi bạn trải qua căng thẳng tâm lý hoặc cảm xúc, não bộ sẽ nhận thức đó là một mối đe dọa và kích hoạt trục hạ đồi-tuyến yên-tuyến thượng thận (HPA) . Mạng lưới liên lạc chuyên biệt này sẽ báo hiệu cho tuyến thượng thận giải phóng một lượng lớn cortisol , thường được gọi là "hormone gây căng thẳng" chính.
Cơ chế sinh học
+ Nhận thức : Vùng dưới đồi của não bộ phát hiện ra sự căng thẳng về cảm xúc (như lo lắng tột độ, sợ hãi hoặc xúc động, buồn bã).
+ Truyền tín hiệu : Vùng dưới đồi giải phóng hormone giải phóng corticotropin (CRH), kích hoạt tuyến yên tiết ra hormone adrenocorticotropic (ACTH).
+ Giải phóng : ACTH di chuyển trong máu và kích thích tuyến thượng thận sản sinh và giải phóng cortisol.
2. Cortisol tăng cao kích hoạt quá trình hình thành cục máu đông
Khi nồng độ cortisol duy trì ở mức cao, nó sẽ làm thay đổi một số cơ chế cốt lõi của hệ tim mạch và huyết học:
+ Tăng cường các yếu tố đông máu : Cortisol trực tiếp kích thích gan tăng cường sản xuất và phiên mã các protein tiền đông máu thiết yếu, chẳng hạn như fibrinogen, yếu tố VIII và yếu tố von Willebrand .
+ Làm suy giảm khả năng hòa tan cục máu đông (phân giải fibrin) : Cortisol làm giảm khả năng tự nhiên của cơ thể trong việc phân giải cục máu đông sau khi chúng hình thành bằng cách ức chế các hệ thống protein chịu trách nhiệm phân giải (hòa tan) fibrin.
+ Tăng cường độ kết dính của tiểu cầu : Cortisol làm tăng hoạt động và sự kết tập của tiểu cầu, khiến các thành phần tế bào này dễ vón cục lại và hình thành cục máu đông hơn.
+ Gây tổn thương lớp lót mạch máu : Tiếp xúc lâu dài với cortisol gây ra rối loạn chức năng nội mô (tổn thương lớp lót bên trong mạch máu), tạo ra bề mặt thô ráp nơi tiểu cầu dễ bám dính.
+ Tăng cường viêm nhiễm và huyết áp cao : Cortisol làm tăng tình trạng viêm toàn thân và kích hoạt co mạch (thu hẹp các mạch máu). Điều này làm tăng huyết áp và tạo ra dòng chảy máu hỗn loạn, cả hai đều là tác nhân cơ học gây ra huyết khối.
Trong lĩnh vực y tế, tác động của nồng độ cortisol cao đối với quá trình đông máu thể hiện rõ rệt ở các đối tượng bị căng thẳng do lối sống hoặc cảm xúc kéo dài. duy trì mức cortisol ở mức cao liên tục, làm cho máu đặc dần và làm trầm trọng thêm các nguy cơ tim mạch hiện có.
3. Làm thế nào để ngăn ngừa hình thành cục máu đông?
Các nghiên cứu khoa học đã chứng minh bột nghệ ( Curcuma longa ) chứa một hợp chất hoạt tính sinh học gọi là curcumin .có thể giúp ngăn ngừa cục máu đông bằng cách hoạt động như một chất chống đông máu và chống kết tập tiểu cầu tự nhiên.
Nghiên cứu cho thấy curcumin ảnh hưởng đến chuỗi phản ứng đông máu thông qua một vài cơ chế chính:
+ Hoạt tính chống kết tập tiểu cầu : Curcumin ngăn chặn các tế bào máu gọi là tiểu cầu kết dính và vón cục lại với nhau, đây là bước đầu tiên trong quá trình hình thành cục máu đông.
+ Ức chế đông máu : Các xét nghiệm trong phòng thí nghiệm cho thấy curcumin có thể kéo dài cả thời gian prothrombin (PT) và thời gian thromboplastin một phần hoạt hóa (aPTT), nghĩa là nó làm chậm quá trình hóa học mà cơ thể sử dụng để tạo cục máu đông.
+ Giảm Fibrinogen : Một số nghiên cứu trên động vật cho thấy curcumin có thể làm giảm nồng độ fibrinogen trong huyết tương, một loại protein cần thiết cho quá trình đông máu.
Lưu ý: Vì nghệ (Curcuma longa) có tác dụng chống đông máu, nên nó tiềm ẩn rủi ro đối với một số nhóm người nhất định: Người đang dùng thuốc làm loãng máu theo toa; Người chuẩn bị phẫu thuật.
Tôi nên dùng bột nghệ như thế nào?
Liều dụng cụ thể phụ thuộc vào mục tiêu của bạn.
• Chăm sóc sức khỏe tổng quát: Từ 1-3gam mỗi ngày. Nên bắt đầu với lượng nhỏ
• Công dụng điều trị (Thực phẩm bổ sung): Các nghiên cứu thường sử dụng: từ 500 đến 2000 miligam (mg) curcumin hoạt tính mỗi ngày .
(Lưu ý: Bột nghệ tươi chỉ chứa khoảng từ 2 đến 6%curcumin, vì vậy bạn sẽ cần lượng bột nhiều hơn đáng kể để đạt được liều lượng này.
Nghệ tan trong chất béo. Luôn kết hợp nghệ với chất béo lành mạnh (như dầu ăn hoặc bơ) và một chút tiêu đen, giúp tăng cường khả năng hấp thu lên đến 2,000%.)
Và tất nhiên điều quan trọng nhất là bạn phải làm giảm cortisol trong cơ thể xuống

BẠN CÓ BIẾTNghiên cứu tiết lộ rằng thực vật có thể suy nghĩ, lựa chọn và ghi nhớ.Khoa học hiện đại chỉ mới bắt đầu bắt k...
16/05/2026

BẠN CÓ BIẾT
Nghiên cứu tiết lộ rằng thực vật có thể suy nghĩ, lựa chọn và ghi nhớ.
Khoa học hiện đại chỉ mới bắt đầu bắt kịp trí tuệ của người xưa: thực vật sở hữu tri giác và một dạng trí thông minh sơ khai.
Mặc dù thực vật không có não hay hệ thần kinh như động vật, các nghiên cứu khoa học hiện đại cho thấy chúng sở hữu những khả năng cực kỳ phức tạp mà nhiều nhà nghiên cứu gọi là "trí thông minh" hoặc "nhận thức" của thực vật.
Dưới đây là cách thực vật "suy nghĩ" và "ghi nhớ" theo góc nhìn khoa học:
1. Thực vật có thể "ghi nhớ" không?
Nhiều bằng chứng cho thấy thực vật có khả năng lưu trữ và sử dụng thông tin từ quá khứ để thích nghi với tương lai:
• Bộ nhớ về ánh sáng: Thực vật có thể ghi nhớ cường độ và bước sóng ánh sáng (được gọi là "bộ nhớ ánh sáng tế bào") để tối ưu hóa quá trình quang hợp và khả năng miễn dịch.
• Ghi nhớ sang chấn: Các thí nghiệm cho thấy nếu một chiếc lá bị thương, cây sẽ lưu giữ "ký mảng" về tổn thương đó ngay cả khi lá bị cắt bỏ, giúp các phần khác của cây phát triển mạnh mẽ hơn để tự vệ.
• Thói quen (Habituation): Loài cây xấu hổ (Mimosa pudica) có thể "học" được rằng một kích thích lặp đi lặp lại (như bị rơi nhẹ) là không nguy hiểm và sẽ ngừng phản ứng khép lá lại—một dạng trí nhớ ngắn hạn và dài hạn.
• Bộ nhớ biểu sinh: Thực vật có thể truyền lại "ký ức" về các điều kiện khắc nghiệt (như hạn hán hoặc sâu bệnh) cho thế hệ sau thông qua các thay đổi hóa học trong DNA mà không làm thay đổi mã gene.
2. Thực vật có "suy nghĩ" không?
Thuật ngữ "suy nghĩ" ở thực vật thường được hiểu là quá trình xử lý thông tin và ra quyết định:
• Xử lý thông tin phi tập trung: Thay vì một bộ não trung tâm, thực vật sử dụng mạng lưới các tế bào (như tế bào bao bó mạch) và tín hiệu điện hóa (sóng Canxi) để truyền tin nhanh chóng khắp cơ thể.
• Giải quyết vấn đề: Thực vật có thể đưa ra "quyết định" về hướng phát triển của rễ dựa trên việc dự đoán nơi có nhiều chất dinh dưỡng hoặc nước trước khi thực sự chạm tới chúng.
• Giao tiếp: Chúng "trò chuyện" với nhau qua các phân tử hóa học phát tán trong không khí hoặc qua mạng lưới nấm dưới lòng đất (được ví như "World Wide Web" của rừng) để cảnh báo về kẻ thù.
Tại sao những phát hiện này lại quan trọng?
Có nhiều lý do tại sao việc thừa nhận khả năng cảm nhận và trí thông minh của thực vật có thể mang lại những tác động tích cực cho tương lai của nhân loại.
Thứ nhất, nó giúp chúng ta vượt qua quan điểm thống trị cho rằng các dạng sống phi nhân loại chỉ được định nghĩa một cách máy móc, và việc gán cho chúng "bản chất sự sống" hay ý thức là một hình thức tư duy huyền ảo. Triết gia người Pháp Maurice Merleau-Pointy gọi quan điểm này là "Đối tượng Vĩ đại", tức là mọi thứ trong vũ trụ đều được cấu thành từ các vật thể vật chất có mối liên hệ bên ngoài với nhau, và ý thức chỉ là một chủ thể phù du chỉ có ở con người.
Thứ hai, nếu chúng ta mở lòng đón nhận khả năng rằng tất cả chúng ta đều là những người tham gia vào một mạng lưới sự sống liên kết chặt chẽ, như nhiều dân tộc trên thế giới đã tin tưởng và thực sự trải nghiệm, thì việc phá hủy thế giới tự nhiên chỉ để phục vụ mô hình tăng trưởng kinh tế vô hạn mang tính tự sát sẽ bị vạch trần là sự điên rồ.
Nếu chúng ta nhận ra, như nhà sinh vật học James Lovelock đề xuất, Trái đất nói chung nên được nhìn nhận giống như một sinh vật tự điều chỉnh (giả thuyết Gaia), hoặc như nhà nấm học Paul Stamet hình dung, rằng có một mạng internet dựa trên nấm trong lòng đất kết nối tất cả các sinh vật sống trên hành tinh trong một mạng lưới chia sẻ thông tin , thì chúng ta sẽ không đối xử với thế giới tự nhiên như là "cái khác" cần phải thống trị.
Mặc dù còn một số tranh luận về thuật ngữ khoa học nhưng ngày càng có đầy đủ cơ sở để khảng định rằng:
Trái đất, hệ thực vật và con người tạo thành một mạng lưới liên kết sâu sắc, nơi tất cả các thành phần đều phụ thuộc lẫn nhau và được liên kết thông qua các tương tác phức tạp, có tính chất qua lại.
Khái niệm về sự liên kết này có nghĩa là sự thay đổi—chẳng hạn như sự thay đổi khí hậu hoặc sự suy giảm của một loài—chắc chắn sẽ lan truyền ảnh hưởng khắp toàn bộ mạng lưới sự sống..
Thực vật để lại rất nhiều dấu ấn trong cơ thể con người.

13/05/2026

NHÂN NGÀY CAO HUYẾT ÁP THẾ GIỚI 17-5-2026
(World Hypertension Day)
1. Thực trạng bệnh tim mạch
“Thật không may, trong lĩnh vực bệnh tim mạch mà tôi đang nghiên cứu, bạn có thể quay ngược lại năm mươi năm và thấy hầu như mọi quan điểm vẫn được sử dụng y hệt.
Thật khó để nghĩ ra bất cứ điều gì mang tính đột phá, hoặc thậm chí là mới mẻ. Vẫn là: Cholesterol gây bệnh tim, vẫn vậy. Người mắc bệnh tiểu đường nên ăn nhiều carbohydrate, v.v…
Hãy xem xét cụ thể về huyết áp cao. Nguyên nhân là gì?
Ở 95% trường hợp, chúng ta không hề biết. Chúng ta không biết khi đó, và bây giờ cũng không biết. Chúng ta vẫn gọi nó là "tăng huyết áp vô căn" như trước đây, nghĩa là – nói một cách đơn giản – huyết áp cao mà không rõ nguyên nhân.
Phương pháp điều trị được đề xuất khi đó và bây giờ là… Hạ huyết áp xuống. Xong.
Và chúng ta gọi đây là tiến bộ ư? Không (tôi nói). Không có sự thay đổi đột phá nào ở đây… đạt yêu cầu.
Việc hạn chế muối/natri để hạ huyết áp và giảm nguy cơ tử vong sớm cũng vậy
Một ý tưởng đã tồn tại từ trước Thế chiến thứ hai.
Điên rồ hồi đó, điên rồ bây giờ. Không thay đổi… đúng vậy.”
Tiến sĩ Malcolm Kendrick chuyên gia nghiên cứu bệnh tim mạch (CVD)
2. Điều gì làm tăng huyết áp của bạn?
2.1 Rối loạn Nội tiết gây tăng huyết áp
Khi khoa học nói chung đã biết đến Hệ thống Nội tiết và ảnh hưởng của nó đến huyết áp như:
+ Kháng insulin không chỉ ảnh hưởng đến đường huyết mà còn trực tiếp gây tăng huyết áp thông qua nhiều cơ chế:
- Giữ muối và nước: Insulin kích thích thận tái hấp thu natri. Khi nồng độ
insulin trong máu tăng cao (để bù đắp tình trạng kháng insulin), nó khiến cơ thể tích tụ nhiều muối và nước hơn, làm tăng thể tích máu.
- Co mạch: Tình trạng này làm giảm sản xuất oxit nitric (NO)—một chất giúp giãn mạch máu—đồng thời kích hoạt hệ thống thần kinh giao cảm, gây co thắt mạch máu.
- Cấu trúc mạch máu: Kháng insulin thúc đẩy sự tăng sinh của các tế bào cơ trơn mạch máu, làm thành mạch dày lên và kém linh hoạt.
+ Nồng độ Cortisol tăng cao mãn tính
Cortisol thường được gọi là "hormone căng thẳng" và khi duy trì ở mức cao, nó gây áp lực lớn lên hệ tim mạch:
- Tăng nhạy cảm co mạch: Cortisol làm tăng phản ứng của mạch máu đối với các chất gây co mạch như epinephrine và norepinephrine.
- Kích hoạt hệ RAAS: Nó kích thích hệ thống renin-angiotensin-aldosterone (RAAS), dẫn đến việc giữ muối và tăng huyết áp.
+ Các Hệ thống nội tiết nói chung là một chuỗi các tuyến tiết ra hormone mà cơ thể sử dụng cho nhiều chức năng khác nhau, bao gồm cả việc điều hòa huyết áp.
- Tuyến thượng thận : Nếu tuyến thượng thận sản xuất quá nhiều aldosterone, cortisol hoặc các hormone tương tự như adrenaline, nó có thể gây ra huyết áp cao.
- Tuyến giáp : Huyết áp cao có thể do tuyến giáp hoạt động kém (suy giáp) hoặc hoạt động quá mức (cường giáp).
- Tuyến yên : Đôi khi các vấn đề ở tuyến thượng thận và tuyến giáp là do các vấn đề ở tuyến yên gây ra. Nếu tuyến yên gửi quá nhiều tín hiệu đến tuyến thượng thận hoặc tuyến giáp, nó có thể dẫn đến huyết áp cao.
- Tuyến cận giáp : Nếu tuyến cận giáp sản xuất quá nhiều hormone cận giáp, nó có thể gây ra huyết áp cao.
2.2 Rối loạn Hệ vi sinh vật đường ruột gây tăng huyết áp
Trong những năm gần đây, người ta nhận thấy rõ ràng rằng hệ vi sinh vật đường ruột của chúng ta đóng vai trò quan trọng trong việc điều hòa huyết áp.
Các nghiên cứu mới nổi cho thấy rõ ràng rằng sự mất cân bằng hệ vi sinh đường ruột (rối loạn hệ vi sinh) là một yếu tố gây ra huyết áp cao (tăng huyết áp).
Mặc dù theo truyền thống, huyết áp được cho là do di truyền, chế độ ăn uống và lối sống gây ra, nhưng các nghiên cứu gần đây chỉ ra rằng mối quan hệ giữa sức khỏe đường ruột và huyết áp là hai chiều : đường ruột không khỏe mạnh có thể
làm tăng huyết áp, và huyết áp cao có thể làm rối loạn thêm hệ vi khuẩn đường ruột.
Hệ vi sinh vật của người bị tăng huyết áp thường thể hiện các mô hình sau :
- Hệ vi sinh vật mất cân bằng (dysbiotic)
- Chức năng hàng rào bảo vệ của niêm mạc ruột bị suy giảm
- Số lượng vi khuẩn sản sinh ra các chất có khả năng gây hại ngày càng tăng.
- Số lượng vi khuẩn có lợi và axit béo chuỗi ngắn giảm.
2.3 Cảm lạnh gây tăng huyết áp đột ngột
Cảm lạnh hoặc nhiễm trùng đường hô hấp có thể tạm thời gây ra huyết áp cao.
Mặt khác, nhiệt độ lạnh trực tiếp làm cho các mạch máu co lại (co mạch) để giữ ấm cơ thể, điều này làm tăng sức cản mạch máu và dẫn đến huyết áp cao hơn. Phản ứng này đẩy máu về phía trung tâm cơ thể, gây ra sự tăng đột biến tạm thời cả huyết áp tâm thu và tâm trương, thường dẫn đến chỉ số huyết áp cao hơn.
Vì sao cảm lạnh gây ra huyết áp cao
• Co mạch: Thời tiết lạnh khiến các mạch máu ngoại vi co lại, đòi hỏi nhiều lực hơn để bơm máu qua các đường dẫn hẹp hơn.
• Quá tải tim: Cơ thể phản ứng với cái lạnh bằng cách kích hoạt hệ thần kinh giao cảm, làm tăng nhịp tim và gây thêm áp lực lên tim.
• Giảm lưu lượng máu đến các chi: Các mạch máu ở ngón tay và ngón chân co lại, chuyển hướng máu từ da đến các cơ quan quan trọng (tim, não, thận).
• Các yếu tố kết hợp: Nhiệt độ thấp hơn, kết hợp với lượng vitamin D giảm và căng thẳng gia tăng, thường dẫn đến huyết áp cao trong những tháng mùa đông.
*Đặc biệt lưu ý: Tình trạng tăng áp đột ngột này thường gặp hơn ở người trên 64 tuổi. Vì thế không chỉ tìm cách hạ huyết áp mà phải điều trị cảm lạnh, để tránh các biến chứng phức tạp.
Và có thể còn nhiều nguyên nhân khác gây tăng huyết áp nữa chưa được biết.
Điều kỳ lạ là các nguyên nhân trên mặc dù đã được các nghiên cứu khoa học trong các lĩnh vực khác chứng mình là tác nhân gây tăng huyết áp, song trong y học tim mạch, chúng vẫn không được coi là nguyên nhân gây tăng huyết áp ( tăng huyết áp nguyên phát)
Những nguyên nhân trên chỉ được tìm đến khi tình trạng Tăng huyết áp kháng trị.
Nghĩa là huyết áp vẫn cao hơn mức mục tiêu mặc dù đã điều trị bằng ba loại thuốc hạ huyết áp khác nhau ở liều tối đa, với ít nhất một loại thuốc lợi tiểu, hoặc huyết áp được kiểm soát thành công bằng ít nhất bốn loại thuốc.
Sự thật là:
“Huyết áp cao không phải là một bệnh. Nó thậm chí không phải là triệu chứng của một bệnh; bởi vì huyết áp cao không gây ra bất kỳ triệu chứng nào trừ khi nó quá cao.
Huyết áp cao chỉ đơn giản là một dấu hiệu, hay một chỉ số đo.”
Tiến sĩ Malcolm Kendrick chuyên gia nghiên cứu bệnh tim mạch (CVD)
Huyết áp cao phản ánh một tình trạng nào đó của cơ thể. Tương tự như khi ta bị sốt.
Hy vọng sẽ có đổi mới khoa học trong lĩnh vực tim mạch để: 95% trường hợp cao huyết áp sẽ không còn là vô căn. Nhờ đó ta điều trị được căn nguyên bệnh gây ra biểu hiện đó.

* Tiến sĩ Malcolm Kendrick đã nghiên cứu bệnh tim mạch (CVD) trong nhiều thập kỷ.
Trong suốt sự nghiệp của mình, Kendrick đã theo đuổi nghiên cứu độc lập về các nguyên nhân cơ bản của bệnh tim mạch , tập trung vào các khía cạnh dịch tễ học vượt ra ngoài các mô hình thông thường. Công trình của ông bao gồm 23 ấn phẩm được ghi nhận trong hồ sơ học thuật, phản ánh sự tìm tòi không ngừng về các yếu tố ảnh hưởng đến sức khỏe tim mạch. Ông là thành viên của Trung tâm Y học Thực chứng (Centre for Evidence-Based Medicine), một tổ chức chuyên thúc đẩy các phương pháp nghiên cứu y học nghiêm ngặt, và Mạng lưới Quốc tế những người hoài nghi về Cholesterol (THINCS), một nhóm nghiên cứu các quan điểm thay thế về rủi ro liên quan đến lipid
Lời nhắn nhủ cuối cùng của Tiến sĩ Kendrick rất đơn giản:
“Hãy can đảm. Hãy đặt câu hỏi. Hãy tự mình xem xét bằng chứng.”
Y học là một hệ thống, và các hệ thống thì chống lại sự thay đổi. Mọi chuyện sẽ dễ dàng hơn nếu bác sĩ chỉ tuân theo hướng dẫn, bệnh nhân uống thuốc mà không thắc mắc, và các công ty dược phẩm tiếp tục kiếm được hàng tỷ đô la.
Nhưng y học thực sự – loại y học cải thiện cuộc sống – diễn ra trong những khoảnh khắc chúng ta chậm lại, suy nghĩ thấu đáo và có những cuộc thảo luận thẳng thắn, sâu sắc.

11/05/2026

Mướp đắng (Momordica Charantia) có thể là một liệu pháp mới cho bệnh ung thư ở người không?
Evandro Fei Fang1,2* và Tzi Bun Ng1
1.Trường Khoa học Y sinh, Khoa Y, Đại học Trung văn Hồng Kông, Shatin, Hồng Kông, Trung Quốc
2. Phòng thí nghiệm Lão khoa Phân tử, Viện Quốc gia về Lão hóa, Viện Y tế Quốc gia, Baltimore, MD, Hoa Kỳ
Tính nhạy cảm cá nhân cùng với việc tiếp xúc ngày càng nhiều với các yếu tố gây ung thư đa dạng trong môi trường là nguyên nhân dẫn đến tỷ lệ mắc ung thư cao.
Mặc dù đã có những bước tiến lớn trong việc phát triển các liệu pháp khác nhau cho bệnh ung thư, nhưng tỷ lệ mắc và tử vong cao của các loại ung thư khác nhau cho thấy nhu cầu về các loại thuốc mới và phương pháp điều trị mới.
Người ta cho rằng một số loại thảo dược, chẳng hạn như cây thuốc dân tộc, là những nguồn đầy hứa hẹn để giảm bớt nỗi đau khổ của bệnh nhân ung thư [1].
Mướp đắng (Momordica charantia thuộc họ Cucurbitaceae) vừa là một loại rau trong chế độ ăn hàng ngày vừa là một thành phần chống tiểu đường trong y học dân gian.
Gần đây, hiệu quả chống khối u của chiết xuất thô mướp đắng và các thành phần tinh chế của nó đối với nhiều loại tế bào khối u đã được báo cáo.
Xét đến thực tế rằng nó đã được sử dụng an toàn như một loại thực phẩm chính trong nhiều năm ở các quốc gia khác nhau, mướp đắng hứa hẹn là một tác nhân điều trị tiềm năng cho nhiều loại ung thư khác nhau.
Ở một số quốc gia châu Á, có lịch sử lâu đời về việc sử dụng quả và hạt mướp đắng cho mục đích chống tiểu đường, chống béo phì, chống virus và tăng cường miễn dịch [2].
Cho đến nay, phần lớn các nghiên cứu được thực hiện về khả năng chống lại bệnh tiểu đường và các biến chứng liên quan của chúng.
Đầu năm 1990, một loại protein bất hoạt ribosome loại I/RIP có tên MAP30 đã được tinh chế từ BG, và hoạt tính chống HIV mạnh mẽ cũng như tiềm năng chống khối u của nó đã được Tiến sĩ Lee-Huang và các cộng sự công bố [3-5]. Gần đây, một số nhóm nghiên cứu đã quan tâm đến tiềm năng chống khối u của BG và các thành phần được phân lập của nó. Người ta đã phát hiện ra rằng chiết xuất thô từ quả BG non ức chế sự phát triển của tế bào ung thư vú bằng cách gây ra sự ngừng chu kỳ tế bào và apoptosis [6].
Gần đây nhất, cùng nhóm nghiên cứu này đã mở rộng tiềm năng chống khối u của chiết xuất thô BG sang ung thư tuyến tiền liệt dựa trên kết quả từ cả nghiên cứu trong ống nghiệm và trên động vật [7].
Người ta quan sát thấy rằng chiết xuất thô BG làm suy giảm sự tiến triển của chu kỳ tế bào và ức chế sự phát triển của mô ghép. Tiềm năng chống ung thư tuyến tiền liệt này phù hợp với các báo cáo của những người khác [8].
Hơn nữa, Brennan và các đồng nghiệp đã phát hiện ra rằng chiết xuất BG ức chế sự phát triển của tế bào ung thư vỏ thượng thận thông qua gây ra apoptosis và điều chỉnh các cơ chế khác nhau [9].
Vì có nhiều thành phần khác nhau đã biết và chưa biết trong BG, nên việc làm rõ các thành phần chức năng là rất quan trọng.
MAP30 đã được báo cáo là có độc tính đối với nhiều tế bào khối u ở người, chẳng hạn như tế bào ung thư vú BT20 và tế bào ung thư tuyến tiền liệt DU145 [10]. Hơn nữa, một ribonuclease có tên RNase MC2 được tinh chế từ hạt BG, đã gây ra apoptosis trong tế bào ung thư vú MCF-7 liên quan đến điều chỉnh quá trình phosphoryl hóa các thành viên MAPK và kích hoạt chuỗi caspase [11].
Sự đối kháng khối u của BG cũng được đóng góp bởi các thành phần khác, chẳng hạn như lectin Momordica charantia/MCL. MCL tứ phân tử là một loại RIP loại II thể hiện cả hoạt động RNA N-glycosidase và hoạt động ngưng kết hồng cầu [2]. Nó chứng minh hoạt động chống khối u đối với tế bào ung thư vòm họng người CNE-1 và CNE-2 trong các nghiên cứu liên quan đến nuôi cấy tế bào và chuột không lông [12]. Kết quả giải thích cơ sở phân tử của tiềm năng chống khối u của chiết xuất BG thô.
BG có tiềm năng ứng dụng y học như đã được chứng minh bởi hoạt động chống tiểu đường, chống HIV và chống khối u, và quan trọng nhất là nó an toàn khi sử dụng. Mặc dù kết quả hiện tại rất khả quan, vẫn còn những lĩnh vực cần nghiên cứu trước khi có thể xem xét sử dụng BG trong lâm sàng.
Thứ nhất, cần phải phân lập và xác định đặc điểm của các thành phần chống khối u chưa biết trong BG.
Việc thiết lập quy trình tinh chế, nhận dạng, hoặc thậm chí tổng hợp hóa học các thành phần chức năng sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các ứng dụng thương mại trong tương lai.
Thứ hai, cần có các thử nghiệm lâm sàng quy mô lớn, được thiết kế tốt, ngẫu nhiên và có đối chứng giả dược để kiểm tra hiệu quả và các tác dụng phụ có thể xảy ra của BG ở người.
Tóm lại, mặc dù BG có vị "đắng" đối với chúng ta, nhưng nó có thể "ngọt" đối với bệnh nhân ung thư trong tương lai.
References
1. Balunas MJ, Jones WP, Chin YW, Qi M, Farnsworth NR, et al. (2006) Relationships between inhibitory activity against a cancer cell line panel, profiles of plants collected, and compound classes isolated in an anticancerdrug discovery project. Chem Biodivers 3: 897-915.
2. Fang EF, Ng TB (2011) Bitter gourd (Momordica charantia) is a cornucopia of health: a review of its credited antidiabetic, anti-HIV, and antitumor properties. Curr Mol Med 11: 417-436.
3. Putnam CD, Tainer JA (2000) The food of sweet and bitter fancy. Nat Struct Biol 7: 17-18.
4. Lee-Huang S, Huang PL, Nara PL, Chen HC, Kung HF, et al. (1990) MAP 30: a new inhibitor of HIV-1 infection and replication. FEBS Lett 272: 12-18.
5. Wang YX, Neamati N, Jacob J, Palmer I, Stahl JS, et al. (1999) Solution Structure of Anti-HIV-1 and Anti-Tumor Protein MAP30: Structural Insights into Its Multiple Functions. Cell 99: 433-442.
6. Ray RB, Raychoudhuri A, Steele R, Nerurkar P, et al. (2010) Bitter melon (Momordica charantia) extract inhibits breast cancer cell proliferation by modulating cell cycle regulatory genes and promotes apoptosis.Cancer Res 70: 1925-1931.
7. Ru P, Steele R, Nerurkar PV, Phillips N, Ray RB (2011) Bitter Melon ExtractImpairs Prostate Cancer Cell-Cycle Progression and Delays Prostatic Intraepithelial Neoplasia in TRAMP Model. Cancer Prev Res (Phila) 4: 2122-2130.

26/04/2026

LỢI ÍCH SỨC KHỎE CỦA MAGIE & CÁC LOẠI MAGIE
Magie là một khoáng chất thiết yếu tham gia vào hơn 300 phản ứng sinh hóa trong cơ thể, từ sản xuất năng lượng đến hỗ trợ hệ thần kinh khỏe mạnh. Mặc dù magie có tự nhiên trong các loại thực phẩm như rau lá xanh, các loại hạt, nhưng nhiều người không nhận đủ lượng magie cần thiết từ chế độ ăn uống và có thể phải dùng đến thực phẩm bổ sung.
Lợi ích sức khỏe chính
Magie hỗ trợ hầu hết mọi hệ thống chính trong cơ thể:
• Hệ thần kinh và tâm trạng: Nó điều chỉnh các chất dẫn truyền thần kinh gửi tín hiệu khắp não và hệ thần kinh. Nó thường được sử dụng để giúp giảm các triệu chứng lo âu , trầm cảm và căng thẳng .
• Giấc ngủ: Bằng cách làm dịu hệ thần kinh trung ương và tăng cường GABA (một chất dẫn truyền thần kinh thúc đẩy sự thư giãn), nó có thể giúp bạn dễ ngủ hơn và cải thiện chất lượng giấc ngủ.
• Chức năng cơ và thần kinh: Chất này rất cần thiết cho sự co và giãn cơ. Nồng độ đầy đủ có thể giúp ngăn ngừa chuột rút và co thắt cơ .
• Sức khỏe tim mạch: Magiê giúp duy trì nhịp tim đều đặn và hỗ trợ mức huyết áp khỏe mạnh .
• Sức khỏe xương: Khoảng 50-60% lượng magie trong cơ thể được lưu trữ trong xương. Magie kết hợp với canxi và vitamin D giúp duy trì mật độ xương và ngăn ngừa loãng xương .
• Sức khỏe chuyển hóa: Giúp điều hòa lượng đường trong máu và cải thiện độ nhạy insulin, từ đó có thể làm giảm nguy cơ mắc bệnh tiểu đường loại 2 .
• Giảm đau nửa đầu: Nồng độ magie thấp có liên quan đến chứng đau nửa đầu; bổ sung magie có thể làm giảm tần suất và cường độ của các cơn đau.
Các loại magie phổ biến
Các dạng magie khác nhau có tỷ lệ hấp thụ ( sinh khả dụng ) và công dụng cụ thể khác nhau:
Các loại thực phẩm bổ sung magie phổ biến
Magie Glycinate :Dễ hấp thụ và dịu nhẹ với dạ dày, lý tưởng để cải thiện giấc ngủ và giảm lo âu.
Magie citrate :Hấp thụ tốt và thường được sử dụng Giảm táo bón và bổ sung dưỡng chất toàn diện nhờ tác dụng thẩm thấu của nó.
Magie oxit :Thường được sử dụng để điều trị Ợ nóng, khó tiêu và táo bón ngắn hạn; khả năng hấp thụ thấp hơn so với các chất khác.
Magnesium L-Threonate :Được biết đến với khả năng vượt qua hàng rào máu não, do đó rất phù hợp cho Sức khỏe não bộ, trí nhớ và chức năng nhận thức.
Magie Malat :Có khả năng hấp thụ cao, thường được sử dụng để hỗ trợ điều trị Sản xuất năng lượng, đau mãn tính hoặc hội chứng đau cơ xơ hóa.
Magie Taurat :Thường được khuyên dùng cho Sức khỏe tim mạch và điều chỉnh lượng đường/huyết áp.
Magie sulfat :Thường được biết đến với tên gọi muối Epsom, được sử dụng trong bồn tắm để làm dịu các cơ bị đau nhức, mặc dù khả năng hấp thụ qua da rất kém.
Magiê clorua: Công dụng đa năng: Dùng để điều trị thiếu hụt chất dinh dưỡng hoặc giảm đau cơ tại chỗ. Khả năng hấp thụ cao.
Lưu ý: Liều cao của một số dạng nhất định, đặc biệt là citrate và oxide, có thể gây tác dụng nhuận tràng.

Address

Phòng 618, Toà Nhà 23 Láng Hạ
Hanoi
084

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Cây Thuốc Việt posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share