Thọ Khang Đường - 壽康堂

Thọ Khang Đường - 壽康堂 THỌ KHANG ĐƯỜNG Link mua hàng qua Shopee:
https://shopee.vn/thaoduoc_thokhang

Mời mọi người kết bạn - kết nối lại trên Facebook cá nhân cùng nhau chia sẻ kiến thức Đông Y.
16/08/2026

Mời mọi người kết bạn - kết nối lại trên Facebook cá nhân cùng nhau chia sẻ kiến thức Đông Y.

HÀNH TRÌNH 97 NĂM CỦA MỘT NGƯỜI GIỮ LỬA ĐÔNG YBạn có tin, một bài thuốc gồm những vị thảo dược bình dị như Bạch truật, C...
07/04/2026

HÀNH TRÌNH 97 NĂM CỦA MỘT NGƯỜI GIỮ LỬA ĐÔNG Y

Bạn có tin, một bài thuốc gồm những vị thảo dược bình dị như Bạch truật, Chỉ xác lại có thể cứu sống một người đã kiệt quệ vì trọng bệnh?

Mạnh Hà y phái không tìm cầu những phép màu cao siêu, xa rời thực tế. Triết lý của chúng tôi nằm ở sự tinh tế trong biện chứng và cái tâm của người thầy thuốc.

Từ câu chuyện 'rửa ruột bằng Đông y' đầy thú vị của người dượng năm nào, đến những đêm thức trắng chép kinh điển trên giấy xuyến chỉ dưới ánh đèn dầu... Tất cả đã đúc kết nên một chân lý: Y thuật chân chính đôi khi nằm ở chính những điều bình dị nhất. Mời các bạn cùng ngược dòng thời gian về vùng đất Mạnh Hà phồn vinh năm ấy."

MẠNH HÀ Y PHÁI: KÝ ỨC VÀ HÀNH TRÌNH TIẾP NỐI DI SẢN ĐÔNG Y
Tôi là người Đan Dương, Giang Tô. Vùng Đan Dương quê tôi thời xưa nằm rất gần với vùng Mạnh Hà, tức là trấn Mạnh Hà ở phía tây bắc huyện Vũ Tiến, tỉnh Giang Tô. Mạnh Hà ngày nay thuộc khu Tân Bắc, thành phố Thường Châu, phía bắc giáp sông Trường Giang và trấn giữ cửa sông Giáp Giang, vốn là vùng trọng điểm phòng ngự trên sông.

Vào thời Đông Hán, Mạnh Hà là một cảng thông ra sông lớn, đường thủy lưu thông vô cùng phồn vinh. Nơi đây có lịch sử lâu đời, kinh tế phát triển và là nơi hội tụ của nhiều nhân tài. Thời Nam Bắc triều, các vị hoàng đế khai quốc của triều Tề và triều Lương đều xuất thân từ vùng đất này, do đó Mạnh Hà còn được xưng tụng là Tề Lương cố lý, nghĩa là quê hương của hai triều đại Tề và Lương. Đến thời Gia Tĩnh triều Minh, để chống lại giặc Oa tức là hải tặc Nhật Bản, người ta đã xây dựng nên Mạnh Hà thành. Lúc bấy giờ, Mạnh Hà đã sản sinh ra rất nhiều danh y, và đến cuối triều Minh thì y học nơi đây đã cực kỳ hưng thịnh.

Gia tộc tôi đã sinh sống ở vùng đất này qua nhiều thế hệ, nên tôi tự nhiên chịu ảnh hưởng rất lớn từ văn hóa bản địa. Vùng Giang Nam thời xưa được mệnh danh là vựa lúa vựa cá hay ngư mễ chi hương, với điều kiện tự nhiên thuận lợi. Nhà tôi nằm cạnh một con sông là nhánh của sông Trường Giang, nên cũng có thể coi như tôi sống ngay bên bờ Trường Giang vậy. Khả năng vận tải của dòng sông này rất tốt, mang đến những mặt hàng từ bên ngoài vô cùng phong phú. Giao thông thuận tiện giúp kinh tế, chính trị và nhân văn đều hưng thịnh, kéo theo đó là môi trường y tế tốt và đội ngũ thầy thuốc đông đảo.

Sự hình thành và uy danh của Mạnh Hà y phái

Sự hình thành của Mạnh Hà y phái có thể truy ngược về thời Đông Hán và Tam Quốc. Tuy nhiên, cái tên Mạnh Hà y phái chính thức bắt đầu từ năm Thiên Khải thứ nhất, tức năm 1621 đời Minh Hy Tông, mang theo một lịch sử vô cùng lâu đời. Mạnh Hà y phái được xem là một trường phái rất lớn với sức ảnh hưởng to lớn đối với nền Đông y đương thời. Sau đó, nhiều danh y ở vùng Vũ Tiến, Giang Tô đã được điều động trực tiếp vào cung để khám bệnh cho các quan lớn và hoàng thân quốc thích. Sự kế thừa cứ thế tiếp nối, đến thời nhà Thanh, nhiều ngự y khám bệnh cho Từ Hy Thái hậu và hoàng đế Quang Tự đều là truyền nhân của Mạnh Hà y phái, khiến danh tiếng trường phái vang xa khắp chốn.

Tôi vẫn luôn ghi nhớ câu nói: Bất vi lương tướng đãn vi lương y, nghĩa là nếu không làm được tể tướng giỏi thì hãy làm một vị y sĩ giỏi. Tôi tình nguyện học y cũng bởi chịu ảnh hưởng từ môi trường y tế tấp nập xung quanh. Khi ấy, thường xuyên có cảnh bệnh nhân lặn lội đường xa bằng thuyền đến khám bệnh đông đến mức làm tắc nghẽn cả một khúc sông, minh chứng cho sự phồn thịnh của y học vùng này.

Những bước chân đầu tiên trên con đường y đạo

Hồi tôi còn nhỏ, cha mẹ đã gửi tôi đến nhà tiên sinh Đái Vũ Tam, một vị Nho y ở địa phương để học chữ. Lớp tư thục nhà Đái tiên sinh có rất nhiều học sinh theo học Tứ Thư Ngũ Kinh, cổ văn và thư pháp, thế nhưng ông chỉ truyền thụ y học cho một mình tôi. Đái tiên sinh không chỉ dạy tôi cổ văn mà còn dạy tôi đọc các điển tịch y học kinh điển như Thương hàn luận, Hoàng Đế nội kinh, Dược tính phú, Mạch quyết... Từ đó, tôi chính thức bước lên con đường Đông y.

Tôi và Đông y có một mối duyên nợ khó dứt khi hầu hết bà con họ hàng đều từng được các bác sĩ phái Mạnh Hà chữa trị. Kỷ niệm sâu sắc nhất là chuyện người dượng của tôi bị bệnh kiết lỵ nghiêm trọng. Dượng đi ngoài mười mấy lần một ngày, cả người lả đi vì kiệt sức. Dượng đã chạy chữa khắp nơi, dùng thuốc Tây hơn nửa tháng mà bệnh tình ngày càng tệ. Sau đó, nghe danh tiếng tiên sinh Hạ Quý Hành, người là truyền nhân của Mã Bồi Chi — một trong bốn vị đại gia của phái Mạnh Hà, dượng tôi đã vội vàng tìm đến ông.

Mạnh Hà y phái có bốn vị đại gia lừng lẫy là Phí Bá Hùng, Mã Bồi Chi, Sào Sùng Sơn và Đinh Cam Nhân. Sư gia của tôi chính là danh y triều Thanh Mã Bồi Chi. Ông từng khám bệnh cho Từ Hy Thái hậu nên danh tiếng vô cùng lẫy lừng; ông vốn sở trường về ngoại khoa nhưng lại thành danh nhờ nội khoa sau khi chữa trị cho Thái hậu. Mã Bồi Chi có hai học trò xuất sắc là Đặng Tinh Bá và Hạ Quý Hành.

Do dượng tôi quá yếu, không thể đi phương tiện công cộng, gia đình phải thuê một chiếc thuyền chở dượng từ Đan Dương đến nơi Hạ Quý Hành ngồi khám. Lúc bấy giờ, phí khám bệnh của Hạ lão là một đồng đại dương, dượng tôi vì muốn khám ngay nên đã đưa thêm hai đồng đại dương để lấy số không phải xếp hàng. Khi Hạ lão hỏi về thuốc đã dùng, dượng bảo Tây y đã tiêm thuốc và rửa ruột cho dượng. Nghe xong, Hạ lão nói: Cậu rửa ruột thì cũng nên dùng thuốc Đông y để rửa chứ! Ông không mấy tin tưởng vào phương pháp Tây y lúc bấy giờ. Sau khi bắt mạch, ông kê đơn thuốc sắc với ý tưởng kiện tỳ thanh thấp nhiệt, sử dụng các vị: Bạch truật, Chỉ xác, Hoàng liên, Thần khúc... Sau 10 thang thuốc đầu tiên, tình trạng tiêu chảy giảm hẳn, dượng tôi đã khỏe đến mức có thể tự đi tàu hỏa để tái khám. Uống thêm 10 thang thuốc kiện tỳ vị nữa, tổng cộng 20 thang thì bệnh khỏi hoàn toàn.

Bái sư Dương Bác Lương và những năm tháng khổ luyện

Năm 17 tuổi, sau khi đã có nền tảng vững chắc, tôi chính thức bái truyền nhân đời thứ ba của Mạnh Hà y phái là tiên sinh Dương Bác Lương làm thầy. Theo dòng kế thừa: đời thứ nhất là Mã Bồi Chi, đời thứ hai là Hạ Quý Hành và Đặng Tinh Bá, và thầy tôi chính là học trò của Đặng Tinh Bá.

Tiên sinh Dương Bác Lương (1880—1952) nổi danh khắp thành Thường Châu. Gia trạch của ông treo những bức hoành phi như Công đồng Biển Thước, ý nói công lao ngang với thần y Biển Thước, hay Quảng bị Thái Hòa, thể hiện y đức che chở rộng khắp. Ông luôn sẵn lòng truyền thụ y thuật cứu người mà không giữ bí mật các bài thuốc quý.

Học y ngày xưa vô cùng vất vả, tôi phải sống tại nhà sư phụ suốt nhiều năm. Ban ngày tôi theo lão sư ra phòng khám, đứng hầu bên chiếc bàn Bát Tiên để ghi chép bệnh án và tên thuốc. Giữa bàn là chiếc nghiên mực cổ tương truyền là di sản của Kỷ Hiểu Lam, lão sư thường liếm mực để sửa chữa mạch án. Buổi tối, tôi giúp việc trong phòng thuốc, tự mình bào chế hàng trăm vị phiến thuốc. Nhờ vậy, tôi thuộc nằm lòng dược tính, dược vị và cách phân biệt dược liệu đạo địa của mấy trăm vị thuốc thường dùng.

Tôi học tập vô cùng khắc khổ, cả năm chỉ về nhà vào dịp Tết. Những cuốn kinh điển như Loại chứng trị tài, Lâm chứng chỉ nam y án, Tố Vấn Linh Khu loại toản, Thương hàn luận, Kim quỹ yếu lược, Thần Nông bản thảo kinh, Dược tính phú, Phụ khoa tập yếu... tôi đều có thể đọc thuộc lòng. Bây giờ đã 97 tuổi, tôi vẫn thuộc được phần lớn, mới thấy công phu rèn luyện từ nhỏ quan trọng như thế nào.

Thời đó không có kỳ nghỉ đông hay nghỉ hè, chúng tôi học tập với tâm không tạp niệm vì đó là nghề mưu sinh. Chúng tôi còn thức đêm để dùng bút lông chép lại các bản y án trên giấy xuyến chỉ để lưu giữ kinh nghiệm quý giá của các y gia Mạnh Hà qua hàng trăm năm. Có những phương thuốc bí truyền đến tận bây giờ vẫn chưa từng được xuất bản.

Tinh hoa "Bình đạm chính là thần kỳ"

Mạnh Hà y phái vô cùng uyên bác, mỗi nhà đều có đặc trưng riêng. Tôi tâm đắc nhất lời dạy của đại diện tiêu biểu Phí Bá Hùng: Thiên hạ vô thần kỳ chi pháp, chỉ hữu bình đạm chi pháp, bình đạm chi cực nãi vi thần kỳ, nghĩa là trong thiên hạ không có phương pháp nào thần kỳ, chỉ có phương pháp bình đạm, và cái bình đạm đến cùng cực chính là sự thần kỳ.

Khi biện chứng chính xác, dù dùng những vị thuốc bình thường cũng có thể chữa khỏi bệnh tật. Suốt đời này, tôi luôn kế thừa tư tưởng ấy, không ngừng nghiên cứu dược tính để việc kê đơn dùng thuốc trên lâm sàng trở nên khéo léo và tinh xảo nhất.

Thọ Khang Đường - 壽康堂 dịch và giới thiệu một phần hồi ký của danh y đương đại Nhan Chính Hoa.

Chuyện Về Ca SARS Đầu Tiên Và Bản Lĩnh "Khu Tà Phù Chính" Của Danh Y Nhan Chính Hoa. Bạn sẽ làm gì khi nhận được lệnh "c...
06/04/2026

Chuyện Về Ca SARS Đầu Tiên Và Bản Lĩnh "Khu Tà Phù Chính" Của Danh Y Nhan Chính Hoa.

Bạn sẽ làm gì khi nhận được lệnh "cách ly y tế" ngay giữa lúc đại dịch bùng phát và nỗi sợ hãi bao trùm toàn thành phố?

Vào một buổi sáng tháng 4 năm 2003, Danh y Nhan Chính Hoa — khi đó đã là một bậc đại thụ trong làng Trung y — đối mặt với SARS không bằng sự hoang mang, mà bằng sự điềm tĩnh của một người đã dành cả đời để "thấu hiểu" bệnh tật.

Bài viết hôm nay không chỉ kể lại một kỷ niệm lịch sử, mà còn mở ra cái nhìn sâu sắc về cách Trung y cổ truyền "đối đầu" với những căn bệnh hiện đại nhất. Từ câu chuyện về ca bệnh SARS đầu tiên tại trường đại học cho đến vị thuốc Thanh hao giành giải Nobel, chúng ta sẽ thấy rằng:

"Mạng người là quan trọng, trong những thời khắc nguy nan, bác sĩ chính là người nên đứng ra gánh vác."

Hãy cùng chiêm nghiệm tư duy "Khu tà phù chính, biện chứng tất tường" và tinh thần học hỏi không ngừng của một vị danh y dù đã ở tuổi thượng thọ vẫn coi mỗi lần khám bệnh là một "kỳ thi" đầy trách nhiệm.

Khu tà phù chính, biện chứng tất tường. Lấy "biện" ứng biến, dung hội tri thức mới
Vào một buổi sáng tháng 4 năm 2003, tôi đang chuẩn bị đến Quốc Y Đường để khám bệnh thì nhận được thông báo của bộ phận phòng chống dịch bệnh y tế, yêu cầu tôi bắt buộc phải tiến hành "cách ly y tế" tại nhà. Không lâu sau, con gái tôi làm việc ở thư viện trường cũng nhận được điện thoại của cơ quan, nói rằng dịch bệnh "SARS" dạo này khá nghiêm trọng, tuần này có thể không cần đi làm, cứ ở nhà nghỉ ngơi chờ thông báo.
Trong phút chốc, hai cha con tôi đều bị yêu cầu về nhà, không được ra khỏi cửa. Tôi làm việc ở trường đại học bao nhiêu năm nay, ngày làm việc bình thường mà không phải đi làm, điều này quả là rất hiếm thấy.
Từ xưa đến nay, các bệnh truyền nhiễm chưa bao giờ chấm dứt, nhân loại đã trải qua hết cuộc đấu tranh này đến cuộc đấu tranh khác với chúng. Dựa vào kinh nghiệm hành nghề y nhiều năm của mình để phán đoán, đợt "SARS" lần này nhất định là một đại dịch có tính lây nhiễm vô cùng nghiêm trọng.
Loại bệnh lây nhiễm này không chỉ có thể xảy ra ở cả bốn mùa trong năm, nam nữ già trẻ đều có thể mắc bệnh, mà phần lớn phát bệnh đột ngột, tiến triển nhanh chóng, biến hóa đa đoan, bệnh tình khá nặng. Trường hợp nghiêm trọng có thể dẫn đến tử vong hoặc để lại những di chứng khó hồi phục. Trung y cho rằng những dịch bệnh này thuộc phạm trù ôn bệnh, người xưa gọi loại bệnh này là ôn dịch.
Hàng ngàn năm qua, trong các tài liệu lịch sử nước ta có rất nhiều ghi chép về sự lưu hành của các bệnh truyền nhiễm. Đến thế kỷ 20, cùng với sự ra đời của thuốc kháng sinh và sự nâng cao của kỹ thuật y tế Tây y, đã có những biện pháp phòng ngừa và điều trị hiệu quả. Thế nhưng vẫn còn rất nhiều vấn đề chưa được giải quyết như tình trạng kháng thuốc, độc tính và các phản ứng bất lợi, đặc biệt là các bệnh truyền nhiễm kiểu mới không ngừng xuất hiện, khiến cho nhiều bệnh truyền nhiễm cấp tính không được kiểm soát hiệu quả và kịp thời.
Các thế hệ Trung y trong quá trình đấu tranh với ôn nhiệt bệnh đã tích lũy được một lượng lớn kinh nghiệm, trong lịch sử đã đóng vai trò tích cực trong nhiều lần dịch bệnh bùng phát. Thêm vào đó, những năm gần đây các nghiên cứu lý luận và thực tiễn lâm sàng không ngừng được đào sâu, ôn bệnh học truyền thống đã có những bước phát triển và đột phá mới, nhận được sự khẳng định và coi trọng của giới y học trong và ngoài nước. Trung y thường có thể mang lại những hiệu quả không ngờ tới trong việc kiểm soát dịch bệnh.
Tôi và con gái đều làm việc và sinh sống tại Đại học Trung y dược Bắc Kinh, mỗi tuần tôi đều ra phòng khám tiếp xúc với bệnh nhân. Hai cha con chúng tôi bị cách ly cùng lúc, nhất định là do nguyên nhân từ tôi.
Tôi cẩn thận nhớ lại khoảng một tuần trước, quả thực có gặp một bệnh nhân như thế này, lúc đó dịch "SARS" vẫn chưa lan rộng. Ngày 10 tháng 4 là thời gian ra phòng khám thường lệ của tôi, một sinh viên năm nhất của Đại học Trung y dược Bắc Kinh vì bị sốt cao nên đến Quốc Y Đường tìm tôi khám bệnh. Bệnh nhân này trước khi đến chỗ tôi khám đã chụp X-quang ngực 3 lần ở Bệnh viện Hữu nghị Trung - Nhật. Bệnh viện chẩn đoán là viêm phổi, đã dùng thuốc kháng sinh điều trị nhưng tình trạng sốt vẫn chưa được kiểm soát tốt.
Tôi hỏi thăm các triệu chứng của cậu ấy, sau khi xem xét rêu lưỡi và mạch tượng, tôi đã tiến hành biện chứng thi trị theo ôn nhiệt bệnh. Bất kể Tây y chẩn đoán là bệnh gì, chúng tôi cứ dựa vào tứ chẩn vọng, văn, vấn, thiết truyền thống của Trung y để hợp tham, có chứng gì thì chúng tôi biện chứng điều trị chứng đó là được.
Thế nhưng học trò của tôi sau khi xem xong chẩn đoán của cậu ấy ở bệnh viện, liền nói ngay với tôi: "Thưa thầy, chúng em nghi ngờ cậu ấy mắc bệnh viêm phổi không điển hình truyền nhiễm." Lúc đó đã là giai đoạn đầu của "SARS", chỉ là căn bệnh này lây truyền quá nhanh, lại là một "bệnh mới", cả Trung y và Tây y đều chưa nhận thức và nghiên cứu được các đặc trưng cũng như phương pháp điều trị của căn bệnh này. Tôi nghĩ có lẽ chính vì bệnh nhân này mà tôi bị "cách ly y tế".
Vừa nhớ đến đây, thì học trò gọi điện thoại đến: "Thầy ơi, thầy thế nào rồi, vẫn khỏe chứ ạ?" Giọng điệu vô cùng căng thẳng. Thì ra cô ấy biết tin tôi bị cách ly, trong lòng rất lo lắng, liền vội vàng gọi điện hỏi xem tôi có khỏe không. Cô ấy nói, Bệnh viện Đông Trực Môn gần đây có một bệnh nhân vì mắc "SARS" mà bệnh tình ác hóa, cuối cùng đã qua đời, còn có nhân viên y tế của bệnh viện cũng bị lây nhiễm, ngoài xã hội đều đang rất hoang mang.
Tôi lập tức nhớ ra ngày khám bệnh hôm đó cô ấy cũng từng tiếp xúc với bệnh nhân kia, liền hỏi: "Em không bị sốt chứ, em không có triệu chứng gì chứ?" Tôi vừa hỏi, cô ấy càng thêm căng thẳng, nói với tôi: "Thưa thầy, em không bị sốt, nhưng cảm thấy người hơi nóng..." Cô ấy cũng hiểu việc mình cảm thấy sốt chỉ là tác dụng tâm lý, thế nhưng vẫn cảm thấy không được khỏe.
Cô ấy nói tiếp: "Cái ca bệnh nghi ngờ mà hôm đó chúng ta khám ấy, không lâu sau đã được Bệnh viện số 6 Bắc Kinh chẩn đoán xác định rồi, cậu ấy là ca bệnh 'SARS' đầu tiên được chẩn đoán xác định của trường mình đấy ạ."
Thực ra, tôi cũng không suy nghĩ quá nhiều. Cả đời này tôi đã tiếp xúc với quá nhiều bệnh nhân, các loại bệnh truyền nhiễm đều đã từng gặp qua. Giờ đây bất luận gặp phải tình trạng bệnh như thế nào, tôi tin rằng y học nhất định sẽ có phương pháp điều trị hiệu quả.
Nhớ lại những ngày dịch "SARS" mới vừa lây lan, ngoài xã hội đều đang bàn tán về căn bệnh này, cả trong và ngoài nước đều có người lây nhiễm. Sự lây truyền lan rộng, lại là căn bệnh nan y, tin tức trên báo đài đều đưa tin cứ nhiễm bệnh là có người chết, mọi người đều bị bao trùm bởi bầu không khí sợ hãi.
Trong bệnh viện có một số bác sĩ tuyến đầu, ở khoa cấp cứu tiếp xúc với bệnh nhân lây nhiễm, đi lại qua các khoa phòng, từ phòng xét nghiệm đến khoa điện quang, từ khoa điện quang lại đến những nơi khác, sự lây truyền chính là bị gây ra như vậy.
Bộ Y tế (cũ) đã ban hành văn bản yêu cầu phải tiến hành sàng lọc bước đầu đối với tất cả các bệnh nhân bị sốt, sau đó còn phải đến phòng khám sốt để tiến hành sàng lọc sâu hơn, xác nhận đi xác nhận lại xem bệnh nhân bị sốt rốt cuộc có phải mắc "SARS" hay không.
Học trò của tôi thi nhau gọi điện đến khuyên tôi, bảo tôi tạm ngừng khám bệnh một thời gian. Lúc đó tôi cảm thấy không cần phải sợ hãi. Hồi còn trẻ ở nông thôn thường xuyên có ôn dịch lưu hành, lúc đó tôi hành nghề y ở quê nhà, chẳng phải vẫn nhận lời đi khám bệnh như thường lệ sao, chỉ cần bản thân chú ý phòng hộ là được rồi.
Hơn nữa, một người bác sĩ, lấy việc chữa bệnh cứu người làm trách nhiệm của bản thân, cần phải có tinh thần trách nhiệm. Do đó phải không ngừng học hỏi từ sách vở hoặc trên lâm sàng, nâng cao y thuật của chính mình. Phải chẩn trị những căn bệnh nghi nan tạp chứng, không ra lâm sàng, không đi đối mặt thì làm sao mà được? Mạng người là quan trọng, trong những thời khắc nguy nan như thế này, bác sĩ chính là người nên đứng ra gánh vác, phải tin tưởng vào y học.
Tôi nói với các học trò: "Không thể ngừng khám được. Là bác sĩ mà đều không dám ra phòng khám, vậy thì bệnh nhân của chúng ta biết tìm ai để khám bệnh?" Cứ như vậy, các đồ đệ cũng theo tôi ra phòng khám như thường lệ.
Lúc bấy giờ, toàn thành phố Bắc Kinh đã tràn ngập bầu không khí căng thẳng hễ nhắc đến "SARS" là biến sắc, rất nhiều doanh nghiệp tư nhân và đơn vị sự nghiệp đã sớm ngừng làm việc. Một số học trò của tôi sống ở khá xa, trên đường đến Quốc Y Đường phải đi qua vài khu vực trong thành phố, thời gian di chuyển phải mất hơn một tiếng đồng hồ.
Năm 2003 không giống như bây giờ, xe hơi cá nhân chưa phổ biến như vậy, chúng tôi đều đi xe buýt, điều này lại càng làm tăng thêm nguy cơ lây nhiễm chéo.
Về ca bệnh được chẩn đoán xác định mà tôi gặp lần trước, trong lòng tôi vẫn luôn nhớ lại quá trình tiếp nhận và khám bệnh. Tôi có một thói quen, mỗi lần ra phòng khám đều phải ghi chép và lưu giữ lại chi tiết về bệnh tình, chẩn đoán, cách dùng thuốc của bệnh nhân. Không chỉ đưa cho bệnh nhân một bản sao đơn thuốc, bản thân tôi cũng giữ lại một bản sao để tiện cho việc tôi có thể nắm bắt toàn diện tình hình điều trị khi bệnh nhân đến tái khám vào lần sau.
Cho nên, mỗi lần ra phòng khám tôi đều tự mang theo một xấp dày những bản sao đơn thuốc của các bệnh nhân đã từng đến khám. Chỉ cần bệnh nhân đến tái khám, tôi đều có thể lấy ra đơn thuốc lần trước của người đó, lại còn được sắp xếp gọn gàng theo thứ tự thời gian. Vì thế mà mỗi một bệnh nhân tôi đều ghi nhớ khắc sâu trong lòng.
Tôi kê đơn thuốc cho bệnh nhân thông thường là từ 7 đến 14 thang, mỗi ngày 1 thang. Trôi qua 1 liệu trình, tôi sẽ suy nghĩ xem liệu người đó có đến tái khám không, các triệu chứng đã thuyên giảm chưa, giai đoạn tiếp theo nên điều trị như thế nào. Đối với tôi mà nói, mỗi lần ra phòng khám thực chất đều giống như một cuộc thi.
Mấy chục năm nay tôi đều ra phòng khám vào sáng thứ Bảy hàng tuần. Tối thứ Sáu hàng tuần trước khi đi ngủ, tôi thường lướt qua trong đầu một lượt xem những bệnh nhân đến khám tuần trước là những người như thế nào, khám bệnh gì, ngày mai sẽ có những bệnh nhân nào đến, bao gồm cả bệnh nhân mới và bệnh nhân cũ. Vì vậy sau khi có tuổi, tôi cũng thường hay mất ngủ vào buổi tối trước ngày ra phòng khám.
Tôi cũng nhớ rất sâu sắc về bệnh tình của bệnh nhân "SARS" này. Hiện giờ tôi vẫn còn nhớ cậu ấy họ Hồng, là một chàng trai 21 tuổi. Chụp X-quang ngực cho thấy vân phổi tăng đậm, rối loạn. Cậu ấy bị sốt 3 ngày, thân nhiệt liên tục ở mức trên 38℃, sốt, sợ lạnh, không ra mồ hôi, khô miệng, mệt mỏi, đau đầu, phân loãng và mỗi ngày đi 1-2 lần, mỏi lưng, tiểu tiện bình thường, uống thuốc kháng sinh không mang lại hiệu quả tốt. Lưỡi đỏ sẫm, rêu lưỡi vàng nhờn, mạch hoạt sác.
Tôi bước đầu phán đoán theo Trung y là thuộc chứng thấp nhiệt nội uẩn, lại cảm phải ngoại tà. Phương pháp điều trị là dùng phép tân lương giải biểu, thanh nhiệt lợi thấp. Bài thuốc cụ thể như sau: Kinh giới 10g, Bạc hà 6g, Kim ngân hoa 15g, Liên kiều 10g, Cát cánh 6g, Sinh cam thảo 5g, Tần giao 10g, Thanh hao 10g, Trúc diệp 10g, Lô căn 30g, Bản lam căn 30g, Phục linh 30g, Trạch tả 15g. Sắc với nước uống 3 thang, mỗi ngày 1 thang.
Trong đơn thuốc có một vị thuốc như thế này —— Thanh hao. Những năm gần đây, công dụng của Trung dược đang dần được người dân hiểu rõ, Trung y vươn ra khỏi biên giới quốc gia, được thế giới đón nhận. Năm 2015, Artemisinin (thanh hao tố) của Đồ U U đã giành được giải Nobel, dược hiệu của thanh hao mới được toàn thế giới biết đến.
Thực ra Trung y Trung dược vô cùng bác đại tinh thâm, thanh hao với tư cách là một vị thuốc Đông y đã có lịch sử ứng dụng từ rất lâu đời. Trong "Bản thảo cương mục" đã có ghi chép thanh hao "trị sốt rét hàn nhiệt". Cuốn "Trửu hậu bị cấp phương" của Cát Hồng có ghi: "Thanh hao một nắm, ngâm với một thăng nước, vắt lấy nước cốt, uống hết, trị các chứng hàn nhiệt." "Bản thảo đồ kinh" nói nó "tốt nhất trong việc trị cốt chưng lao nhiệt, các bài thuốc cổ phần nhiều chỉ dùng đơn độc vị này". Rất nhiều sách bản thảo đời sau đều có những mô tả về công dụng lâm sàng của nó, hàng trăm năm qua đều được các y gia ứng dụng trong điều trị nhiệt bệnh.
Trung y thời cổ đại tuy chưa nhận thức được các tác nhân gây bệnh như vi khuẩn, vi rút, nhưng các tác dụng tương tự của Trung dược như hạ sốt, giảm đau, chống nhiễm trùng, kháng khuẩn, kháng vi rút, chống khối u... đã được sử dụng trong điều trị từ rất sớm.
Vào những năm 60 của thế kỷ 20, quân dân Việt Nam bị nhiễm bệnh sốt rét, không có thuốc đặc trị, đã yêu cầu chính phủ Trung Quốc hỗ trợ, hy vọng tìm được loại thuốc mới chữa bệnh sốt rét. Khi đó dưới sự triển khai thống nhất của trung ương, đã sàng lọc hàng ngàn loại thuốc Đông y trên phạm vi toàn quốc, phát hiện ra thanh hao có hiệu quả chữa bệnh sốt rét tốt nhất. Lấy đó làm cơ hội, từ những năm 70 của thế kỷ 20 nước ta đã bắt đầu nghiên cứu các thành phần hiệu quả trong việc chữa trị bệnh sốt rét có trong thanh hao.
Sau khi tiêu tốn một lượng lớn nhân lực và vật lực, cuối cùng đã tìm ra "artemisinin", một thành phần hữu hiệu kháng sốt rét mới có cấu trúc khác biệt so với trước đây. Tiếp đó là mở rộng các thử nghiệm lâm sàng ở khắp mọi miền đất nước. Tính đến năm 1978, đã điều trị tổng cộng 2099 ca bệnh, tất cả đều được chữa khỏi về mặt lâm sàng. Artemisinin là một hợp chất sesquiterpene lactone có chứa cấu trúc cầu nối peroxy, có đặc điểm hiệu quả cao, tác dụng nhanh, độc tính thấp. Sự phát hiện ra artemisinin là một bước đột phá quan trọng trong lịch sử thuốc chống sốt rét tiếp sau các loại thuốc thuộc nhóm quinoline, góp phần làm rạng danh nền y học cổ truyền Trung Quốc.
Năm 2003, khi điều trị cho bệnh nhân bị sốt này tôi đã ứng dụng 10g thanh hao để điều trị chứng ôn tà phát nhiệt của cậu ấy. Thanh hao có mùi thơm thoang thoảng, đắng lạnh mà không làm tổn thương tỳ vị, không làm tổn thương âm huyết, lại có thể làm cho phục nhiệt (nhiệt ẩn nấp) ở phần âm thấu thoát ra phần dương, điều trị chứng hàn nhiệt vãng lai (lúc nóng lúc lạnh) của ôn nhiệt bệnh. Do đó nó phù hợp nhất với bệnh nhân này, lại phối hợp thêm một số vị thuốc thanh nhiệt giải độc, giải biểu tuyên phế, lợi thấp.
Trên lâm sàng, tôi khá chú trọng đến việc điều lý tỳ vị cho bệnh nhân. Nếu tỳ vị của một người không tốt, thì không cần bàn đến các vấn đề khác nữa. Người này trước tiên phải bảo vệ tỳ vị, tỳ vị khỏe rồi thì khí huyết của cơ thể mới tốt, khả năng miễn dịch mới có thể theo kịp. Như vậy một khi họ mắc bệnh, khả năng hồi phục cũng sẽ nhanh hơn so với người khác.
Vì vậy trong thuốc sắc tôi cũng thêm vào phục linh, để kiện tỳ ích vị, lợi thủy thấm thấp, cũng có thể điều trị chứng phân lỏng của cậu ấy. Phục linh là vị thuốc tôi thường xuyên ứng dụng trên lâm sàng, có vị ngọt nhạt, tính bình, không có tính thiên lệch, là một loại thuốc kiện tỳ cực kỳ tốt. Trước khi bệnh nhân này được chẩn đoán xác định là mắc "SARS", tôi đã làm ổn định bệnh tình của cậu ấy, đây chính là dựa trên cơ sở biện bệnh và biện chứng. Trung y có thể đối phó với các loại chứng bệnh hiện đại biến hóa đa đoan, nền y học cổ truyền cũng có thể chữa trị được "bệnh hiện đại".
Năm nay tôi đã 97 tuổi, hành nghề y hơn 70 năm, có thể nói kinh nghiệm lâm sàng tích lũy được trong hơn 70 năm qua là không ít. Nhưng mỗi lần diện chẩn cho bệnh nhân, tôi đều mang trong mình thái độ học hỏi, coi việc khám bệnh giống như một kỳ thi vậy. Tôi hỏi bệnh, bắt mạch một cách tỉ mỉ, cẩn thận phân tích bệnh tình, nghiêm túc biện chứng, và toàn tâm toàn ý dốc sức vào việc điều trị.
Hiện nay, tôi vẫn đang kiên trì mỗi tuần ra phòng khám một buổi sáng, vẫn toàn tâm toàn ý cống hiến cho công tác lâm sàng. Tôi cảm thấy bản thân mình vô cùng may mắn, có thể có được bản lĩnh chữa bệnh cứu người, cũng coi như là đã có chút cống hiến cho xã hội.

Quế Chi Thang trị sốt về chiều không rõ nguyên nhân.Hách Vạn Sơn (Giáo sư Đại học Trung y dược Bắc Kinh)Lời tòa soạn: Nh...
30/03/2026

Quế Chi Thang trị sốt về chiều không rõ nguyên nhân.

Hách Vạn Sơn (Giáo sư Đại học Trung y dược Bắc Kinh)

Lời tòa soạn: Nhà thương hàn học nổi tiếng, Giáo sư Hách Vạn Sơn từng theo Hồ lão chép phương thuốc để học tập. Chúng tôi đã thu thập những câu chuyện Hách Vạn Sơn giảng về kinh phương, và sắp xếp lại những nội dung liên quan đến Hồ Hy Thứ tiên sinh để chia sẻ cùng mọi người:

Câu chuyện 1: Bài thuốc Quế chi thang "phát hãn trước thời điểm phát bệnh"

Khi tôi làm bác sĩ nội trú ở Bệnh viện Đông Trực Môn, vào một mùa thu, phòng khám có một bệnh nhân đến.
Bệnh nhân đó lúc ấy 56 tuổi, là người miền Nam. Đối với giọng miền Nam của ông ấy, tôi nghe câu được câu chăng.
Phải nghe đi nghe lại mấy lần tôi mới hiểu ông ấy nói gì, nên tôi có ấn tượng vô cùng sâu sắc.

Ông ấy nói: "Bác sĩ, bệnh này của tôi không dễ chữa đâu, tôi đã chữa ở bệnh viện các vị ba tháng rồi."
Tôi hỏi: "Bác có biểu hiện như thế nào?"
"Cứ mỗi buổi chiều từ một đến ba giờ, người tôi lại nóng bừng lên một trận, nóng xong là vã mồ hôi đầm đìa. Mồ hôi ra đến mức độ nào ư? Ướt đẫm một chiếc áo lót len, ướt đẫm một chiếc áo sơ mi. Sau khi thay cả hai chiếc áo này và cả quần đi, tôi mới có thể tiếp tục làm việc vào buổi chiều. Thời gian nóng bừng và vã mồ hôi kéo dài từ lúc ba giờ cho đến bốn giờ."

Tôi xem lại các đơn thuốc trong bệnh án trước đó của ông ấy, có phương pháp dưỡng âm liễm hãn (giữ mồ hôi), có ích khí cố biểu (bổ khí vững bên ngoài), có thanh lý nhiệt (làm mát nhiệt bên trong)...
Những phương pháp điều trị chứng nhiều mồ hôi mà tôi có thể nghĩ ra, các bác sĩ khám trước đều đã dùng qua.
Đặc biệt là vị bác sĩ khám cho ông ấy lần gần đây nhất, đã dùng phương pháp liễm hãn cố biểu.
Tôi nhớ đơn thuốc đó dùng rất nhiều vị, liều lượng cũng rất cao, ví dụ như rễ Ma hoàng 30 gram, Phù tiểu mạch 50 gram, Mẫu lệ nung 50 gram, Phân tâm mộc (tức màng ngăn quả óc chó) 20 gram, Kim anh tử 30 gram.
Những vị thuốc liễm hãn cố biểu mà tôi biết, gần như đều được kê hết vào đó.

Tôi thầm nghĩ, lần này chắc chắn sẽ có hiệu quả, giả sử lần này mà không có tác dụng nữa thì tôi hoàn toàn hết cách.
Tôi hỏi: "Cụ ơi, cụ uống đơn thuốc lần trước xong thấy thế nào?"
Ông ấy đáp: "Đơn thuốc này uống một lần xong tôi không dám uống nữa."
Tôi ngạc nhiên: "Sao lại không dám uống nữa ạ?"
Ông ấy kể: "Sáng tôi uống thuốc xong, đến ba giờ chiều tôi vẫn cảm thấy nóng. Trước kia tôi phát nóng xong, vã mồ hôi xong, thay quần áo là có thể làm việc. Nhưng chiều hôm đó quả thực không ra mồ hôi nữa, song lại nóng hầm hập cả một buổi chiều. Mãi đến lúc tan làm người vẫn nóng, nóng đến mức tâm phiền thể táo (bứt rứt khó chịu). Mồ hôi thì không ra, quần áo cũng không phải thay, nhưng tôi không dám uống tiếp nữa."

Nghe thấy vậy, tôi liền bảo: "Cụ ạ, nếu như cầm mồ hôi không được, vậy cháu sẽ cho cụ phát hãn (làm ra mồ hôi) nhé."
Ông ấy sững sờ, nói: "Bác sĩ này, tôi khám bệnh lâu như vậy rồi, chưa có một bác sĩ nào bảo phải cho tôi phát hãn cả, làm vậy có được không?"
Rất rõ ràng, ông ấy thấy tôi quá trẻ nên không mấy tin tưởng.
Ông ấy hỏi vặn lại: "Nếu uống thuốc của cậu mà không có hiệu quả thì sao?"
Tôi cam đoan: "Uống thuốc của cháu mà không khỏi, cháu sẽ dẫn cụ đi tìm thầy của cháu."
Bởi vì thời bấy giờ, một số bác sĩ lão thành không ngồi khám ở phòng khám thông thường, nên bệnh nhân muốn được họ khám là rất khó.
Nghe tôi nói vậy ông ấy rất mừng, liền bảo tôi kê đơn.

Tôi kê ba thang Quế chi thang.
Hồi đó tôi chưa rành cách dùng bài thuốc này lắm, nên cũng không dặn bệnh nhân cách uống ra sao.
Bệnh nhân cầm ba thang thuốc về. Đến ngày thứ ba, ông ấy lại tới.
Ông ấy phàn nàn: "Bác sĩ, uống thuốc của cậu xong chẳng có cảm giác gì cả, vẫn y như cũ."

Thế là tôi dẫn ông ấy đi tìm Hồ Hy Thứ lão sư.
Hồ Hy Thứ lão sư là bậc tiền bối cực kỳ giỏi dùng kinh phương ở Bệnh viện Đông Trực Môn của chúng tôi năm xưa. Thời đó thầy không khám ở phòng khám thường, mà chỉ được sắp xếp khám ở phòng khám đặc biệt dành cho các cán bộ cấp cao.
Tôi trình bày: "Hồ lão, em dẫn đến cho thầy một bệnh nhân rất nan giải. Bệnh nhân này cứ đến ba giờ chiều mỗi ngày là bắt đầu nóng bừng bừng, sau đó vã mồ hôi, ra nhiều đến mức phải thay hai bộ quần áo. Các bác sĩ trước đây dùng thuốc ích khí cố biểu, liễm hãn thu sáp đều không có tác dụng, em đã dùng Quế chi thang định cho ông ấy phát hãn."
Sau đó thầy bắt đầu hỏi bệnh nhân: "Đơn thuốc này cụ uống thế nào?"
Tôi nhận thấy bệnh nhân này ngập ngừng ấp úng đáp: "Tôi uống một lần buổi sáng, một lần buổi tối."

Sau này tôi ngẫm nghĩ lại mới chợt hiểu ra: E rằng ông ấy căn bản chưa hề uống thuốc tôi kê, ông ấy chỉ chờ tôi dẫn đi tìm bác sĩ lão thành để khám thôi. Có vẻ ông ấy không tin tôi, lại càng không tin vã mồ hôi nhiều như vậy mà còn đi phát hãn, nên ông ấy chẳng thèm uống, cứ đợi ba ngày sau để tôi đưa đi gặp bác sĩ lão thành.
Hồ lão quay sang bảo tôi: "Cậu kê đơn tốt đấy, cậu dặn ông ấy uống thế nào?"
Tôi gãi đầu: "Lúc đó em cũng không dặn dò bệnh nhân kỹ lưỡng về cách uống ạ."

Hồ lão liền dặn bệnh nhân: "Vẫn dùng đơn thuốc cũ này. Nhưng phải chú ý cách uống. Mỗi ngày chỉ uống một lần thôi. Không phải cụ cứ đến ba giờ chiều là nóng bừng, vã mồ hôi sao? Vậy thì một giờ rưỡi chiều cụ uống thuốc. Uống xong, cụ uống thêm chút nước nóng. Sau đó cứ ngồi nghỉ ngơi trên ghế sô pha ở văn phòng một lát. Nhớ mặc quần áo dày hơn một chút, để cho cơ thể râm rấp ra một chút mồ hôi trước. Đợi đến hai, ba giờ xem có còn nóng lên được nữa hay không. Cứ kê trước ba thang uống thử xem sao."

Bệnh nhân này vui vẻ ra về.
Ba ngày sau, tức là ngày thứ tư, ông ấy lại đến, vô cùng mừng rỡ nói: "Bác sĩ, cái phương pháp phát hãn này quả nhiên rất tuyệt. Trưa ngày đầu tiên sau khi uống thuốc xong, tôi uống thêm chút nước, người râm rấp ra một chút mồ hôi, căn bản không cần phải thay quần áo. Đến ba giờ chiều là lúc đáng lẽ phải phát nóng, tôi cứ ngồi đợi nó nóng lên, kết quả lại chẳng nóng nổi, hoặc có nóng thì cũng không đáng kể. Mồ hôi ra sau đó cũng không nhiều, tôi chỉ phải thay chiếc áo trong cùng thôi. Đến ngày thứ hai, mức độ nóng còn nhẹ hơn ngày đầu, tôi thấy không cần thay quần áo cũng được. Đến ngày thứ ba thì mức độ càng nhẹ đi, hoàn toàn không phải thay đồ nữa. Cho nên, đơn thuốc này có tác dụng rồi."

Tôi bảo kê thêm ba thang nữa, ông ấy hỏi có cần đi tìm bác sĩ lão thành nữa không?
Tôi nói không cần. Thế là lại kê ba thang.
Sau đó vị bệnh nhân này bẵng đi một thời gian rất dài không thấy đến.
Ba tháng sau, tôi được điều chuyển từ phòng khám vào khu điều trị nội trú.
Một hôm bệnh nhân này tìm đến tôi và nói: "Kể từ lần trước cậu dẫn tôi đi gặp Hồ lão, tính trước tính sau tôi uống tổng cộng sáu thang thuốc, từ đó về sau không còn bị nóng bừng hay vã mồ hôi nữa. Nhưng dạo gần đây lại hơi có chút mồ hôi, cậu xem đơn thuốc này có thể dùng lại được không?"

Tôi bảo được. Tôi lại kê nguyên phương Quế chi thang cho ông ấy, gồm 6 thang.
Ông ấy nói: "Bác sĩ Hách, xem ra công việc của các cậu hay phải thay đổi vị trí. Sau khi tôi uống xong thuốc này nếu không tái phát, tôi sẽ không tìm cậu nữa; nếu còn tái phát, cho dù cậu có chuyển đi đâu, tôi cũng sẽ tìm được cậu."
Hiện tại ba mươi năm đã trôi qua, ông ấy không còn đến tìm tôi lần nào nữa.

Address

Chưa Có
Ho Chi Minh City

Opening Hours

Monday 08:30 - 17:00
Tuesday 08:00 - 17:00
Wednesday 08:00 - 17:00
Thursday 08:00 - 17:00
Friday 08:00 - 17:00
Saturday 08:00 - 17:00

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Thọ Khang Đường - 壽康堂 posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Shortcuts

Share