06/04/2026
Chuyện Về Ca SARS Đầu Tiên Và Bản Lĩnh "Khu Tà Phù Chính" Của Danh Y Nhan Chính Hoa.
Bạn sẽ làm gì khi nhận được lệnh "cách ly y tế" ngay giữa lúc đại dịch bùng phát và nỗi sợ hãi bao trùm toàn thành phố?
Vào một buổi sáng tháng 4 năm 2003, Danh y Nhan Chính Hoa — khi đó đã là một bậc đại thụ trong làng Trung y — đối mặt với SARS không bằng sự hoang mang, mà bằng sự điềm tĩnh của một người đã dành cả đời để "thấu hiểu" bệnh tật.
Bài viết hôm nay không chỉ kể lại một kỷ niệm lịch sử, mà còn mở ra cái nhìn sâu sắc về cách Trung y cổ truyền "đối đầu" với những căn bệnh hiện đại nhất. Từ câu chuyện về ca bệnh SARS đầu tiên tại trường đại học cho đến vị thuốc Thanh hao giành giải Nobel, chúng ta sẽ thấy rằng:
"Mạng người là quan trọng, trong những thời khắc nguy nan, bác sĩ chính là người nên đứng ra gánh vác."
Hãy cùng chiêm nghiệm tư duy "Khu tà phù chính, biện chứng tất tường" và tinh thần học hỏi không ngừng của một vị danh y dù đã ở tuổi thượng thọ vẫn coi mỗi lần khám bệnh là một "kỳ thi" đầy trách nhiệm.
Khu tà phù chính, biện chứng tất tường. Lấy "biện" ứng biến, dung hội tri thức mới
Vào một buổi sáng tháng 4 năm 2003, tôi đang chuẩn bị đến Quốc Y Đường để khám bệnh thì nhận được thông báo của bộ phận phòng chống dịch bệnh y tế, yêu cầu tôi bắt buộc phải tiến hành "cách ly y tế" tại nhà. Không lâu sau, con gái tôi làm việc ở thư viện trường cũng nhận được điện thoại của cơ quan, nói rằng dịch bệnh "SARS" dạo này khá nghiêm trọng, tuần này có thể không cần đi làm, cứ ở nhà nghỉ ngơi chờ thông báo.
Trong phút chốc, hai cha con tôi đều bị yêu cầu về nhà, không được ra khỏi cửa. Tôi làm việc ở trường đại học bao nhiêu năm nay, ngày làm việc bình thường mà không phải đi làm, điều này quả là rất hiếm thấy.
Từ xưa đến nay, các bệnh truyền nhiễm chưa bao giờ chấm dứt, nhân loại đã trải qua hết cuộc đấu tranh này đến cuộc đấu tranh khác với chúng. Dựa vào kinh nghiệm hành nghề y nhiều năm của mình để phán đoán, đợt "SARS" lần này nhất định là một đại dịch có tính lây nhiễm vô cùng nghiêm trọng.
Loại bệnh lây nhiễm này không chỉ có thể xảy ra ở cả bốn mùa trong năm, nam nữ già trẻ đều có thể mắc bệnh, mà phần lớn phát bệnh đột ngột, tiến triển nhanh chóng, biến hóa đa đoan, bệnh tình khá nặng. Trường hợp nghiêm trọng có thể dẫn đến tử vong hoặc để lại những di chứng khó hồi phục. Trung y cho rằng những dịch bệnh này thuộc phạm trù ôn bệnh, người xưa gọi loại bệnh này là ôn dịch.
Hàng ngàn năm qua, trong các tài liệu lịch sử nước ta có rất nhiều ghi chép về sự lưu hành của các bệnh truyền nhiễm. Đến thế kỷ 20, cùng với sự ra đời của thuốc kháng sinh và sự nâng cao của kỹ thuật y tế Tây y, đã có những biện pháp phòng ngừa và điều trị hiệu quả. Thế nhưng vẫn còn rất nhiều vấn đề chưa được giải quyết như tình trạng kháng thuốc, độc tính và các phản ứng bất lợi, đặc biệt là các bệnh truyền nhiễm kiểu mới không ngừng xuất hiện, khiến cho nhiều bệnh truyền nhiễm cấp tính không được kiểm soát hiệu quả và kịp thời.
Các thế hệ Trung y trong quá trình đấu tranh với ôn nhiệt bệnh đã tích lũy được một lượng lớn kinh nghiệm, trong lịch sử đã đóng vai trò tích cực trong nhiều lần dịch bệnh bùng phát. Thêm vào đó, những năm gần đây các nghiên cứu lý luận và thực tiễn lâm sàng không ngừng được đào sâu, ôn bệnh học truyền thống đã có những bước phát triển và đột phá mới, nhận được sự khẳng định và coi trọng của giới y học trong và ngoài nước. Trung y thường có thể mang lại những hiệu quả không ngờ tới trong việc kiểm soát dịch bệnh.
Tôi và con gái đều làm việc và sinh sống tại Đại học Trung y dược Bắc Kinh, mỗi tuần tôi đều ra phòng khám tiếp xúc với bệnh nhân. Hai cha con chúng tôi bị cách ly cùng lúc, nhất định là do nguyên nhân từ tôi.
Tôi cẩn thận nhớ lại khoảng một tuần trước, quả thực có gặp một bệnh nhân như thế này, lúc đó dịch "SARS" vẫn chưa lan rộng. Ngày 10 tháng 4 là thời gian ra phòng khám thường lệ của tôi, một sinh viên năm nhất của Đại học Trung y dược Bắc Kinh vì bị sốt cao nên đến Quốc Y Đường tìm tôi khám bệnh. Bệnh nhân này trước khi đến chỗ tôi khám đã chụp X-quang ngực 3 lần ở Bệnh viện Hữu nghị Trung - Nhật. Bệnh viện chẩn đoán là viêm phổi, đã dùng thuốc kháng sinh điều trị nhưng tình trạng sốt vẫn chưa được kiểm soát tốt.
Tôi hỏi thăm các triệu chứng của cậu ấy, sau khi xem xét rêu lưỡi và mạch tượng, tôi đã tiến hành biện chứng thi trị theo ôn nhiệt bệnh. Bất kể Tây y chẩn đoán là bệnh gì, chúng tôi cứ dựa vào tứ chẩn vọng, văn, vấn, thiết truyền thống của Trung y để hợp tham, có chứng gì thì chúng tôi biện chứng điều trị chứng đó là được.
Thế nhưng học trò của tôi sau khi xem xong chẩn đoán của cậu ấy ở bệnh viện, liền nói ngay với tôi: "Thưa thầy, chúng em nghi ngờ cậu ấy mắc bệnh viêm phổi không điển hình truyền nhiễm." Lúc đó đã là giai đoạn đầu của "SARS", chỉ là căn bệnh này lây truyền quá nhanh, lại là một "bệnh mới", cả Trung y và Tây y đều chưa nhận thức và nghiên cứu được các đặc trưng cũng như phương pháp điều trị của căn bệnh này. Tôi nghĩ có lẽ chính vì bệnh nhân này mà tôi bị "cách ly y tế".
Vừa nhớ đến đây, thì học trò gọi điện thoại đến: "Thầy ơi, thầy thế nào rồi, vẫn khỏe chứ ạ?" Giọng điệu vô cùng căng thẳng. Thì ra cô ấy biết tin tôi bị cách ly, trong lòng rất lo lắng, liền vội vàng gọi điện hỏi xem tôi có khỏe không. Cô ấy nói, Bệnh viện Đông Trực Môn gần đây có một bệnh nhân vì mắc "SARS" mà bệnh tình ác hóa, cuối cùng đã qua đời, còn có nhân viên y tế của bệnh viện cũng bị lây nhiễm, ngoài xã hội đều đang rất hoang mang.
Tôi lập tức nhớ ra ngày khám bệnh hôm đó cô ấy cũng từng tiếp xúc với bệnh nhân kia, liền hỏi: "Em không bị sốt chứ, em không có triệu chứng gì chứ?" Tôi vừa hỏi, cô ấy càng thêm căng thẳng, nói với tôi: "Thưa thầy, em không bị sốt, nhưng cảm thấy người hơi nóng..." Cô ấy cũng hiểu việc mình cảm thấy sốt chỉ là tác dụng tâm lý, thế nhưng vẫn cảm thấy không được khỏe.
Cô ấy nói tiếp: "Cái ca bệnh nghi ngờ mà hôm đó chúng ta khám ấy, không lâu sau đã được Bệnh viện số 6 Bắc Kinh chẩn đoán xác định rồi, cậu ấy là ca bệnh 'SARS' đầu tiên được chẩn đoán xác định của trường mình đấy ạ."
Thực ra, tôi cũng không suy nghĩ quá nhiều. Cả đời này tôi đã tiếp xúc với quá nhiều bệnh nhân, các loại bệnh truyền nhiễm đều đã từng gặp qua. Giờ đây bất luận gặp phải tình trạng bệnh như thế nào, tôi tin rằng y học nhất định sẽ có phương pháp điều trị hiệu quả.
Nhớ lại những ngày dịch "SARS" mới vừa lây lan, ngoài xã hội đều đang bàn tán về căn bệnh này, cả trong và ngoài nước đều có người lây nhiễm. Sự lây truyền lan rộng, lại là căn bệnh nan y, tin tức trên báo đài đều đưa tin cứ nhiễm bệnh là có người chết, mọi người đều bị bao trùm bởi bầu không khí sợ hãi.
Trong bệnh viện có một số bác sĩ tuyến đầu, ở khoa cấp cứu tiếp xúc với bệnh nhân lây nhiễm, đi lại qua các khoa phòng, từ phòng xét nghiệm đến khoa điện quang, từ khoa điện quang lại đến những nơi khác, sự lây truyền chính là bị gây ra như vậy.
Bộ Y tế (cũ) đã ban hành văn bản yêu cầu phải tiến hành sàng lọc bước đầu đối với tất cả các bệnh nhân bị sốt, sau đó còn phải đến phòng khám sốt để tiến hành sàng lọc sâu hơn, xác nhận đi xác nhận lại xem bệnh nhân bị sốt rốt cuộc có phải mắc "SARS" hay không.
Học trò của tôi thi nhau gọi điện đến khuyên tôi, bảo tôi tạm ngừng khám bệnh một thời gian. Lúc đó tôi cảm thấy không cần phải sợ hãi. Hồi còn trẻ ở nông thôn thường xuyên có ôn dịch lưu hành, lúc đó tôi hành nghề y ở quê nhà, chẳng phải vẫn nhận lời đi khám bệnh như thường lệ sao, chỉ cần bản thân chú ý phòng hộ là được rồi.
Hơn nữa, một người bác sĩ, lấy việc chữa bệnh cứu người làm trách nhiệm của bản thân, cần phải có tinh thần trách nhiệm. Do đó phải không ngừng học hỏi từ sách vở hoặc trên lâm sàng, nâng cao y thuật của chính mình. Phải chẩn trị những căn bệnh nghi nan tạp chứng, không ra lâm sàng, không đi đối mặt thì làm sao mà được? Mạng người là quan trọng, trong những thời khắc nguy nan như thế này, bác sĩ chính là người nên đứng ra gánh vác, phải tin tưởng vào y học.
Tôi nói với các học trò: "Không thể ngừng khám được. Là bác sĩ mà đều không dám ra phòng khám, vậy thì bệnh nhân của chúng ta biết tìm ai để khám bệnh?" Cứ như vậy, các đồ đệ cũng theo tôi ra phòng khám như thường lệ.
Lúc bấy giờ, toàn thành phố Bắc Kinh đã tràn ngập bầu không khí căng thẳng hễ nhắc đến "SARS" là biến sắc, rất nhiều doanh nghiệp tư nhân và đơn vị sự nghiệp đã sớm ngừng làm việc. Một số học trò của tôi sống ở khá xa, trên đường đến Quốc Y Đường phải đi qua vài khu vực trong thành phố, thời gian di chuyển phải mất hơn một tiếng đồng hồ.
Năm 2003 không giống như bây giờ, xe hơi cá nhân chưa phổ biến như vậy, chúng tôi đều đi xe buýt, điều này lại càng làm tăng thêm nguy cơ lây nhiễm chéo.
Về ca bệnh được chẩn đoán xác định mà tôi gặp lần trước, trong lòng tôi vẫn luôn nhớ lại quá trình tiếp nhận và khám bệnh. Tôi có một thói quen, mỗi lần ra phòng khám đều phải ghi chép và lưu giữ lại chi tiết về bệnh tình, chẩn đoán, cách dùng thuốc của bệnh nhân. Không chỉ đưa cho bệnh nhân một bản sao đơn thuốc, bản thân tôi cũng giữ lại một bản sao để tiện cho việc tôi có thể nắm bắt toàn diện tình hình điều trị khi bệnh nhân đến tái khám vào lần sau.
Cho nên, mỗi lần ra phòng khám tôi đều tự mang theo một xấp dày những bản sao đơn thuốc của các bệnh nhân đã từng đến khám. Chỉ cần bệnh nhân đến tái khám, tôi đều có thể lấy ra đơn thuốc lần trước của người đó, lại còn được sắp xếp gọn gàng theo thứ tự thời gian. Vì thế mà mỗi một bệnh nhân tôi đều ghi nhớ khắc sâu trong lòng.
Tôi kê đơn thuốc cho bệnh nhân thông thường là từ 7 đến 14 thang, mỗi ngày 1 thang. Trôi qua 1 liệu trình, tôi sẽ suy nghĩ xem liệu người đó có đến tái khám không, các triệu chứng đã thuyên giảm chưa, giai đoạn tiếp theo nên điều trị như thế nào. Đối với tôi mà nói, mỗi lần ra phòng khám thực chất đều giống như một cuộc thi.
Mấy chục năm nay tôi đều ra phòng khám vào sáng thứ Bảy hàng tuần. Tối thứ Sáu hàng tuần trước khi đi ngủ, tôi thường lướt qua trong đầu một lượt xem những bệnh nhân đến khám tuần trước là những người như thế nào, khám bệnh gì, ngày mai sẽ có những bệnh nhân nào đến, bao gồm cả bệnh nhân mới và bệnh nhân cũ. Vì vậy sau khi có tuổi, tôi cũng thường hay mất ngủ vào buổi tối trước ngày ra phòng khám.
Tôi cũng nhớ rất sâu sắc về bệnh tình của bệnh nhân "SARS" này. Hiện giờ tôi vẫn còn nhớ cậu ấy họ Hồng, là một chàng trai 21 tuổi. Chụp X-quang ngực cho thấy vân phổi tăng đậm, rối loạn. Cậu ấy bị sốt 3 ngày, thân nhiệt liên tục ở mức trên 38℃, sốt, sợ lạnh, không ra mồ hôi, khô miệng, mệt mỏi, đau đầu, phân loãng và mỗi ngày đi 1-2 lần, mỏi lưng, tiểu tiện bình thường, uống thuốc kháng sinh không mang lại hiệu quả tốt. Lưỡi đỏ sẫm, rêu lưỡi vàng nhờn, mạch hoạt sác.
Tôi bước đầu phán đoán theo Trung y là thuộc chứng thấp nhiệt nội uẩn, lại cảm phải ngoại tà. Phương pháp điều trị là dùng phép tân lương giải biểu, thanh nhiệt lợi thấp. Bài thuốc cụ thể như sau: Kinh giới 10g, Bạc hà 6g, Kim ngân hoa 15g, Liên kiều 10g, Cát cánh 6g, Sinh cam thảo 5g, Tần giao 10g, Thanh hao 10g, Trúc diệp 10g, Lô căn 30g, Bản lam căn 30g, Phục linh 30g, Trạch tả 15g. Sắc với nước uống 3 thang, mỗi ngày 1 thang.
Trong đơn thuốc có một vị thuốc như thế này —— Thanh hao. Những năm gần đây, công dụng của Trung dược đang dần được người dân hiểu rõ, Trung y vươn ra khỏi biên giới quốc gia, được thế giới đón nhận. Năm 2015, Artemisinin (thanh hao tố) của Đồ U U đã giành được giải Nobel, dược hiệu của thanh hao mới được toàn thế giới biết đến.
Thực ra Trung y Trung dược vô cùng bác đại tinh thâm, thanh hao với tư cách là một vị thuốc Đông y đã có lịch sử ứng dụng từ rất lâu đời. Trong "Bản thảo cương mục" đã có ghi chép thanh hao "trị sốt rét hàn nhiệt". Cuốn "Trửu hậu bị cấp phương" của Cát Hồng có ghi: "Thanh hao một nắm, ngâm với một thăng nước, vắt lấy nước cốt, uống hết, trị các chứng hàn nhiệt." "Bản thảo đồ kinh" nói nó "tốt nhất trong việc trị cốt chưng lao nhiệt, các bài thuốc cổ phần nhiều chỉ dùng đơn độc vị này". Rất nhiều sách bản thảo đời sau đều có những mô tả về công dụng lâm sàng của nó, hàng trăm năm qua đều được các y gia ứng dụng trong điều trị nhiệt bệnh.
Trung y thời cổ đại tuy chưa nhận thức được các tác nhân gây bệnh như vi khuẩn, vi rút, nhưng các tác dụng tương tự của Trung dược như hạ sốt, giảm đau, chống nhiễm trùng, kháng khuẩn, kháng vi rút, chống khối u... đã được sử dụng trong điều trị từ rất sớm.
Vào những năm 60 của thế kỷ 20, quân dân Việt Nam bị nhiễm bệnh sốt rét, không có thuốc đặc trị, đã yêu cầu chính phủ Trung Quốc hỗ trợ, hy vọng tìm được loại thuốc mới chữa bệnh sốt rét. Khi đó dưới sự triển khai thống nhất của trung ương, đã sàng lọc hàng ngàn loại thuốc Đông y trên phạm vi toàn quốc, phát hiện ra thanh hao có hiệu quả chữa bệnh sốt rét tốt nhất. Lấy đó làm cơ hội, từ những năm 70 của thế kỷ 20 nước ta đã bắt đầu nghiên cứu các thành phần hiệu quả trong việc chữa trị bệnh sốt rét có trong thanh hao.
Sau khi tiêu tốn một lượng lớn nhân lực và vật lực, cuối cùng đã tìm ra "artemisinin", một thành phần hữu hiệu kháng sốt rét mới có cấu trúc khác biệt so với trước đây. Tiếp đó là mở rộng các thử nghiệm lâm sàng ở khắp mọi miền đất nước. Tính đến năm 1978, đã điều trị tổng cộng 2099 ca bệnh, tất cả đều được chữa khỏi về mặt lâm sàng. Artemisinin là một hợp chất sesquiterpene lactone có chứa cấu trúc cầu nối peroxy, có đặc điểm hiệu quả cao, tác dụng nhanh, độc tính thấp. Sự phát hiện ra artemisinin là một bước đột phá quan trọng trong lịch sử thuốc chống sốt rét tiếp sau các loại thuốc thuộc nhóm quinoline, góp phần làm rạng danh nền y học cổ truyền Trung Quốc.
Năm 2003, khi điều trị cho bệnh nhân bị sốt này tôi đã ứng dụng 10g thanh hao để điều trị chứng ôn tà phát nhiệt của cậu ấy. Thanh hao có mùi thơm thoang thoảng, đắng lạnh mà không làm tổn thương tỳ vị, không làm tổn thương âm huyết, lại có thể làm cho phục nhiệt (nhiệt ẩn nấp) ở phần âm thấu thoát ra phần dương, điều trị chứng hàn nhiệt vãng lai (lúc nóng lúc lạnh) của ôn nhiệt bệnh. Do đó nó phù hợp nhất với bệnh nhân này, lại phối hợp thêm một số vị thuốc thanh nhiệt giải độc, giải biểu tuyên phế, lợi thấp.
Trên lâm sàng, tôi khá chú trọng đến việc điều lý tỳ vị cho bệnh nhân. Nếu tỳ vị của một người không tốt, thì không cần bàn đến các vấn đề khác nữa. Người này trước tiên phải bảo vệ tỳ vị, tỳ vị khỏe rồi thì khí huyết của cơ thể mới tốt, khả năng miễn dịch mới có thể theo kịp. Như vậy một khi họ mắc bệnh, khả năng hồi phục cũng sẽ nhanh hơn so với người khác.
Vì vậy trong thuốc sắc tôi cũng thêm vào phục linh, để kiện tỳ ích vị, lợi thủy thấm thấp, cũng có thể điều trị chứng phân lỏng của cậu ấy. Phục linh là vị thuốc tôi thường xuyên ứng dụng trên lâm sàng, có vị ngọt nhạt, tính bình, không có tính thiên lệch, là một loại thuốc kiện tỳ cực kỳ tốt. Trước khi bệnh nhân này được chẩn đoán xác định là mắc "SARS", tôi đã làm ổn định bệnh tình của cậu ấy, đây chính là dựa trên cơ sở biện bệnh và biện chứng. Trung y có thể đối phó với các loại chứng bệnh hiện đại biến hóa đa đoan, nền y học cổ truyền cũng có thể chữa trị được "bệnh hiện đại".
Năm nay tôi đã 97 tuổi, hành nghề y hơn 70 năm, có thể nói kinh nghiệm lâm sàng tích lũy được trong hơn 70 năm qua là không ít. Nhưng mỗi lần diện chẩn cho bệnh nhân, tôi đều mang trong mình thái độ học hỏi, coi việc khám bệnh giống như một kỳ thi vậy. Tôi hỏi bệnh, bắt mạch một cách tỉ mỉ, cẩn thận phân tích bệnh tình, nghiêm túc biện chứng, và toàn tâm toàn ý dốc sức vào việc điều trị.
Hiện nay, tôi vẫn đang kiên trì mỗi tuần ra phòng khám một buổi sáng, vẫn toàn tâm toàn ý cống hiến cho công tác lâm sàng. Tôi cảm thấy bản thân mình vô cùng may mắn, có thể có được bản lĩnh chữa bệnh cứu người, cũng coi như là đã có chút cống hiến cho xã hội.