13/05/2026
U XƠ TỬ CUNG VÀ CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ TRONG Y HỌC CỔ TRUYỀN
U xơ tử cung (Leiomyoma) (UXTC) là loại u lành tính phổ biến ở tử cung, có nguồn gốc từ sự tăng sinh khu trú của các tế bào cơ trơn và tổ chức liên kết sợi. Bệnh lý này có tần suất xuất hiện cao ở phụ nữ trong độ tuổi sinh sản, đặc biệt là giai đoạn tiền mãn kinh.
Mặc dù phần lớn bệnh nhân không biểu hiện triệu chứng lâm sàng (vô triệu chứng), sự gia tăng kích thước của khối u có thể dẫn đến các biến chứng thực thể nghiêm trọng. Các tác động này bao gồm hội chứng đau vùng chậu mãn tính (Chronic Pelvic Pain), hiệu ứng chèn ép các cơ quan lân cận và rối loạn chức năng sinh sản.
**𝐏𝐡𝐚̂𝐧 𝐥𝐨𝐚̣𝐢 𝐯𝐚̀ 𝐭𝐫𝐢𝐞̣̂𝐮 𝐜𝐡𝐮̛́𝐧𝐠 𝐥𝐚̂𝐦 𝐬𝐚̀𝐧𝐠
UXCTC có thể xuất hiện ở nhiều vị trí khác nhau trong tử cung như dưới niêm mạc, trong cơ tử cung, hoặc dưới thanh mạc. Tùy vào vị trí và kích thước của khối u, các triệu chứng có thể bao gồm:
- Xuất huyết tử cung bất thường: Đây là triệu chứng phổ biến nhất, thường xuất hiện dưới dạng kinh nguyệt kéo dài hoặc ra máu nhiều.
- Đau: Đau có thể xuất hiện ở vùng bụng dưới, lưng, hoặc đùi, đặc biệt khi khối u lớn và gây chèn ép các cơ quan lân cận như bàng quang hoặc trực tràng.
- Ảnh hưởng đến sinh sản: UXCTC có thể làm giảm khả năng thụ thai, tăng nguy cơ sảy thai, hoặc gây ra các biến chứng trong thai kỳ như nhau b**g non, thai chậm tăng trưởng, và sinh non.
**𝐍𝐠𝐮𝐲𝐞̂𝐧 𝐧𝐡𝐚̂𝐧 𝐠𝐚̂𝐲 𝐮 𝐱𝐨̛ 𝐜𝐨̂̉ 𝐭𝐮̛̉ 𝐜𝐮𝐧𝐠
- Theo Tây y, nguyên nhân chính xác gây ra u xơ tử cung (Myoma) vẫn chưa được biết rõ, nhưng sự phát triển của khối u dường như phụ thuộc vào hormone estrogen. Nếu phụ nữ còn hành kinh, u xơ thường sẽ tiếp tục phát triển
- Theo Đông y, u xơ tử cung được xếp vào chứng "Trưng Hà" (khối u vùng bụng) và bắt nguồn từ các nguyên nhân sau:
+ Ngoại hàn (Lạnh từ bên ngoài): Vào các thời điểm nhạy cảm như tuổi dậy thì, sau sinh hoặc lúc hành kinh, tử cung rất dễ bị khí lạnh xâm nhập sinh ra nội hàn, dẫn đến huyết ứ và lâu ngày hình thành khối u
+ Căng thẳng cảm xúc (Rối loạn tình chí): Các cảm xúc như tức giận, thất vọng, lo lắng, tội lỗi hoặc sợ hãi làm Can khí uất kết (khí trệ), dần dần dẫn đến huyết ứ tạo thành u cục.
+ Ăn uống thất thường (Ẩm thực thất điều): Ăn nhiều chất béo, đồ chiên, đường, bơ sữa gây tích tụ Đàm; ngoài ra, việc ăn vội vàng, ăn khuya làm khí trệ, khi kết hợp với căng thẳng sẽ dẫn đến huyết ứ
+ Hoạt động thể lực và làm việc quá sức: Tập luyện thể lực quá mức (chạy bộ, cử tạ, múa ballet...) hoặc lao động nặng làm suy yếu Tỳ, Can, Thận, đặc biệt dễ gây bệnh trong độ tuổi dậy thì
Việc làm việc quá nhiều giờ mà không nghỉ ngơi cũng là nguyên nhân phổ biến ở phụ nữ trên 30 tuổi
**𝐍𝐠𝐮𝐲𝐞̂𝐧 𝐭𝐚̆́𝐜 đ𝐢𝐞̂̀𝐮 𝐭𝐫𝐢̣
- Cần phân biệt rõ giữa "Bản" (Gốc bệnh) và "Tiêu" (Biểu hiện), giữa Hư và Thực
- Trong u xơ, phần "Tiêu" (biểu hiện chính) luôn là Huyết ứ
- Nguyên tắc cốt lõi là tập trung vào phần "Tiêu" để "tấn công" các yếu tố gây bệnh: hoạt huyết, tiêu hòn cục, hóa Đàm (nếu có) và làm mềm khối u (Nhuyễn kiên).
- Tuy nhiên, người thầy thuốc vẫn phải luôn áp dụng "Biện chứng luận trị" (tìm ra nguyên nhân và gốc bệnh) cẩn thận. Không nên chỉ mù quáng dùng các vị thuốc phá huyết cực mạnh nếu bệnh nhân có kèm các chứng hư nhược, mà phải chọn cách điều trị phù hợp với thể trạng
**𝐏𝐡𝐮̛𝐨̛𝐧𝐠 𝐩𝐡𝐚́𝐩 đ𝐢𝐞̂̀𝐮 𝐭𝐫𝐢̣
- Theo Tây y: Tùy thuộc vào kích thước và triệu chứng, các phương pháp bao gồm: phẫu thuật cắt bỏ tử cung, bóc tách nhân xơ (mổ hở hoặc nội soi), liệu pháp hormone, thuyên tắc động mạch tử cung, phẫu thuật siêu âm hội tụ, hoặc chỉ theo dõi chờ đợi (nếu không có triệu chứng)
- Theo Đông y: Điều trị chủ yếu kết hợp giữa thảo dược và châm cứu, phân chia cụ thể theo 5 thể bệnh lâm sàng:
+ Huyết ứ do Khí trệ: Phép trị là hành khí, hoạt huyết phá ứ, làm mềm khối u
+ Huyết ứ do Hàn: Phép trị là hoạt huyết phá ứ, trục hàn khỏi tử cung, làm mềm khối u
+ Huyết ứ kèm Đàm: Phép trị là hoạt huyết phá ứ, hóa đàm, hành khí
+ Huyết ứ kèm Khí Huyết hư: Phép trị là hoạt huyết phá ứ kết hợp bồi bổ khí huyết
+ Huyết ứ kèm Thận Dương hư: Phép trị là hoạt huyết phá ứ, bổ Dương, làm mạnh tạng Thận
*Về dược liệu: Trọng tâm là sử dụng các vị thuốc "phá huyết" (Nga truật, Tam lăng, Trạch lan) phối hợp cùng các vị thuốc có tác dụng "làm mềm khối u" (Ý dĩ nhân, Hải tảo, Triết bối mẫu, Xuyên sơn giáp, Hạ khô thảo...)
+ Bài thuốc tiêu biểu và thường được sử dụng nhất là Quế chi phục linh hoàn (gia giảm các vị thuốc cho phù hợp với từng bệnh nhân)
+ Ngoài ra có các bài như: Đào nhân tán, Đào nhân hoàn, Xuyên sơn giáp tán, Hương lăng hoà…
*Về châm cứu: Thường sử dụng phép tả hoặc bình bổ bình tả trên các huyệt để trục ứ, ôn kinh và điều hòa Mạch Nhâm, Mạch Xung. Các huyệt phổ biến bao gồm Công tôn (SP-4), Nội quan (P-6), Liệt khuyết (LU-7), Chiếu hải (KI-6), Trung cực (Ren-3), Tử cung, Huyết hải (SP-10), Thái xung (LIV-3)... Tùy vào hàn hay hư, có thể kết hợp thêm cứu ngải.
Tổng hợp: BS Thiên Kim
Nguồn:
- Sách cổ phương: Nữ khoa toát yếu
- Sản phụ khoa trong Đông Y - Giovanni Maciocia