30/05/2026
Nhiều người Việt lớn lên trong những gia đình tưởng chừng êm ấm, được quan tâm chăm chút khá kỹ lưỡng, nhưng lại thường mang theo một cảm giác khó gọi tên: cảm giác có lỗi, cảm giác thiếu hụt-trống vắng, hoặc cảm giác mình không đáng tin. Họ thường trăn trở lo lắng, sợ làm người khác thất vọng, hoặc cảm thấy áy náy ngay cả khi mong muốn bày tỏ những nhu cầu chính đáng của bản thân.
Để hiểu điều đó, có lẽ chúng ta cần nhìn xa hơn câu chuyện của một cá nhân, để nhìn vào lịch sử của cả một thế hệ. Ông bà và cha mẹ chúng ta đã sống qua những giai đoạn đầy biến động: chiến tranh, nạn đói, sụp đổ, mất mát - chia ly, di cư, thuyền nhân,..những năm tháng mà sự an toàn luôn là điều mong manh. {Trong những hoàn cảnh ấy, lo lắng về đời sống, về thời cuộc không chỉ là một vấn đề tâm lý, mà là một cơ chế sinh tồn. Người ta phải luôn cảnh giác, luôn chuẩn bị cho tình huống xấu nhất, luôn lo xa để bảo vệ bản thân và gia đình}.
Tuy nhiên, chiến tranh đã kết thúc, nhưng những dấu ấn tâm lý của nó lại không dễ dàng biến mất. Những nỗi sợ hãi, bất an và thiếu cảm giác an toàn đôi khi được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác một cách âm thầm. Chúng đi vào cách cha mẹ nhìn nhận thế giới, cách họ phản ứng với nguy cơ, và cả cách họ nuôi dạy con cái. Tình yêu thương khi ấy thường đi kèm với nỗi lo. Sự quan tâm thường đi kèm với kiểm soát. Mong muốn bảo vệ đôi khi lại được thể hiện bằng những lời trách móc hoặc gây áp lực.
Có lẽ nhiều người từng nghe những câu như: "Ba mẹ chỉ lo cho con thôi", "Con phải biết điều chứ", "Người ta còn khổ hơn con nhiều", "Con có gì mà buồn", hoặc "Con làm vậy là ba mẹ thất vọng lắm". Phần lớn những lời nói ấy không xuất phát từ ác ý. Chúng thường được nói ra từ tình thương, từ sự lo lắng và từ mong muốn con cái có một cuộc sống tốt đẹp hơn. Nhưng khi những thông điệp ấy liên tục phủ nhận hoặc làm giảm nhẹ trải nghiệm cảm xúc của đứa trẻ, một cảm nhận ngầm dần được hình thành: thứ mình mong muốn không quan trọng, nếu không mình sẽ làm người khác thất vọng, day dứt giữa điều mình muốn mà không đạt được. Đâu là tự do? Đâu là trách nhiệm?
Đó chính là lúc những hình thức gaslighting tinh vi bắt đầu xuất hiện trong đời sống gia đình. Không phải là sự thao túng có chủ đích như chúng ta thường hình dung, mà là việc vô tình khiến đối phương tự nghi ngờ chính họ, nhận thức hoặc trải nghiệm của chính họ. Trong gia đình, đứa trẻ dần nghĩ rằng cảm nhận của mình còn thiếu sót/ chưa đúng đắn. Nó sẽ ít tin vào mình (tự tin) mà nương vào sự phụ thuộc để (ngầm) có sự xác nhận. Ngay cả khi chưa biết nói, trẻ đã phát triển khả năng cảm nhận nhạy bén nhằm hiệu chỉnh tương thích với môi trường. Thử nhìn vào ánh mắt một đứa trẻ u buồn, e dè, ít linh hoạt trong một bối cảnh nuôi dạy kỹ càng, dường như đã có một sự căng thẳng, dè chừng để đáp ứng môi trường (sinh tồn), [ mời xem lại đoạn 2, phần {....} ], trong khuôn khổ kỳ vọng và bảo vệ của người nuôi dưỡng. Tự do của tuổi thơ đã bị đánh cắp!
Điều đáng suy ngẫm là điều này được truyền qua cách giao tiếp hằng ngày. Qua giọng nói. Qua ánh mắt. Qua những lời nhận xét tưởng như rất bình thường trong gia đình. Và rồi những đứa trẻ ngày ấy lớn lên, trở thành cha mẹ, người yêu, vợ chồng, bạn bè, quản lý hay đồng nghiệp. Nếu những bất an cũ chưa được nhận diện và chữa lành, họ có thể tiếp tục lặp lại những điều mình từng trải qua, vô tình gieo cảm giác tội lỗi, bất an và tự nghi ngờ cho những người xung quanh dưới danh nghĩa của sự che chở bảo vệ, muốn tốt cho người khác…Nhưng, thử nhìn lại cảm nhận của họ được nêu ở trên: một tình trạng kéo dài của trống vắng, cô độc, mệt mỏi xuyên suốt quá trình phát triển, có ai hiểu, bảo vệ hay che chở cho họ? Khi chiếc cốc của tôi còn thiếu mà phải san sẻ, một cá nhân dễ có cảm nhận bất công, bị bỏ mặc/ phủ nhận, khi những gì họ cố định hướng lại không đạt sự kỳ vọng.
Bởi phần lớn chúng ta đều đang mang trong mình những di sản tâm lý đến từ nhiều thế hệ trước. Điều quan trọng hơn là nhận ra vòng lặp ấy đang tồn tại. Nhận ra rằng đôi khi những lời nói tưởng như là quan tâm lại có thể trở thành gánh nặng. Nhận ra rằng sự quan tâm không nhất thiết phải đi cùng cảm giác tội lỗi.
Và có lẽ, trước mỗi cuộc trò chuyện, chúng ta có thể dành cho mình một khoảnh khắc để tự hỏi:
"Điều mình sắp nói có khiến đối phương cảm thấy có lỗi? Điều mình sắp nói có đang nâng đỡ giá trị của họ, hay vô tình khiến họ cảm thấy nhỏ bé và kém cỏi hơn?"