09/08/2023
HOẠI TỬ XƯƠNG
Xương của cơ thể con người được tạo thành từ các tế bào sống cần nguồn cung cấp máu để nuôi dưỡng. Hoại tử xương xảy ra khi việc cung cấp máu cho một phần của xương bị gián đoạn, làm mất đi các chất dinh dưỡng và oxy thiết yếu của mô xương. Điều này dẫn đến mô xương bị chết, và cuối cùng là xương khớp bị phá hủy, xẹp xương, gẫy xương.
Các trường hợp hoại tử xương có thể là do chấn thương, hoặc là không do chấn thương. Hoại tử thường xảy ra ở các khớp xương nơi chịu lực hoặc và nơi nghèo mạch máu nuôi xương. Hoại tử xương thường được gọi với các tên: Hoại tử vô mạch- hoại tử vô khuẩn- Hoại tử thiếu máu cục bộ của xương.
Mọi người ở mọi lứa tuổi đều có thể bị hoại tử xương, nhưng bệnh này phổ biến nhất ở những người ở độ tuổi 30 và 40. Hoại tử xương có thể xảy ra với bất kỳ xương nào, nhưng thường là ở đầu các xương dài, chẳng hạn như chỏm xương đùi, chỏm xương cánh tay trong khớp vai, đầu gối cũng thường bị ảnh hưởng. Các xương khuỷu tay, mắt cá chân, bàn chân, cổ tay và bàn tay ít bị hơn.
Các yếu tố có thể khiến một người dễ bị hoại tử xương:
Chấn thương: Trật khớp hoặc chấn thương xương khớp có thể làm hỏng các mạch máu nuôi xương khớp. Điều này làm giảm lượng máu cung cấp cho khớp xương và dẫn đến hoại tử xương khớp.
Sử dụng thuốc Corticoid làm tăng nguy cơ hoại tử xương khi chúng được sử dụng trong thời gian dài với liều lượng cao. Những loại thuốc này, thường được sử dụng để điều trị bệnh hen suyễn, viêm khớp, bệnh lupus ban đỏ hệ thống, kiểm soát các khối u và các tình trạng khác. …
Việc sử dụng các thuốc corticosteroid có liên quan đến tăng lipid máu và tích tụ lipid trong xương, đặc biệt là ở chỏm xương đùi dẫn đến tổn thương khoang mạch máu và thiếu máu cục bộ nghiêm trọng nuôi chỏm xương. Các nghiên cứu trong ống nghiệm cho thấy rằng corticosteroid có thể chuyển các tế bào tạo xương từ quá trình biệt hóa nguyên bào xương sang con đường tạo mỡ, cuối cùng dẫn đến hoại tử xương.
Gần đây việc sử dụng bisphosphonates cũng được cho là có liên quan đến hoại tử xương hàm trên và hàm dưới ở bệnh nhân có sử dụng nhóm thuốc này.
Sử dụng quá nhiều rượu và thuốc lá: Sử dụng quá nhiều rượu là một yếu tố nguy cơ gây hoại tử xương, lạm dụng rượu có thể khiến các chất béo tích tụ trong mạch máu và có thể làm tăng nồng độ cortisol khiến mạch máu bị thu hẹp, cũng như Nicotin và các chất khác có trong thuốc lá thuốc lào sẽ làm co mạch. Cả 2 Cùng nhau làm giảm lưu lượng máu đến xương và dẫn đến hoại tử xương.
Một số bệnh có thể làm tăng nguy cơ hoại tử xương, bao gồm: Rối loạn về máu, bệnh hồng cầu hình liềm, bệnh bạch cầu, bệnh giảm áp - bệnh thợ lặn, người mắc bệnh gout, nhiễm HIV, viêm tụy, viêm khớp dạng thấp, lupus.
Đông máu nội mạch hiện được công nhận là một vấn đề trung tâm trong cơ chế bệnh sinh của hoại tử xương không chấn thương. Hầu hết các tình trạng liên quan đến hoại tử xương không do chấn thương đều liên quan đến đông máu nội mạch lan tỏa hoặc tăng đông máu. Tuy nhiên hiện nay vẫn chưa rõ liệu những người có nguy cơ huyết khối cao cũng có nguy cơ cao bị hoại tử xương hay không.
Một số can thiệp y tế cũng làm tăng nguy cơ hoại tử xương, bao gồm: Hóa trị, xạ trị, ghép tủy xương đồng loại, ghép cơ quan.
Tuy nhiên, một số người mắc bệnh không có bất kỳ yếu tố nguy cơ nào đã biết. Nhiều nghiên cứu cũng đã chỉ ra rằng, Cái chết theo chương trình của các tế bào xương trên thực tế có thể là nguyên nhân của hoại tử xương chứ không phải là kết quả. Các nghiên cứu bệnh học đã chỉ ra rằng, trong 'dòng thời gian' của hoại tử xương, nguyên bào xương chết có thể xảy ra trước những thay đổi mô học khác trong mô xương.
Các triệu chứng của hoại tử xương:
Thông thường, bệnh nhân không có triệu chứng trong vài tuần đến vài năm sau tổn thương mạch máu ban đầu. Nhưng khi bệnh tiến triển, bệnh nhân có thể dần dần bắt đầu cảm thấy đau, đặc biệt là ở các xương chịu trọng lượng như xương đùi, khớp gối, cơn đau thường xuất hiện ở háng hoặc ít phổ biến hơn là ở vùng mông. Đầu tiên cảm thấy đau khi đặt trọng lượng lên khớp bị ảnh hưởng, nhưng dần dần khớp có thể cảm thấy đau ngay cả khi nghỉ ngơi. Theo thời gian, khớp có thể cứng lại và mất chuyển động, và viêm xương khớp- phá hủy xương khớp hình thành.
Đôi khi, hoại tử xương xảy ra ở nhiều vị trí và sẽ biểu hiện bằng nhiều triệu chứng của viêm đa khớp không điển hình.
Nếu phần xương bị ảnh hưởng nhỏ và không phải chịu lực chịu trọng lượng lớn, nó có thể không gây ra vấn đề gì hoặc quá trình sửa chữa của cơ thể có thể xây dựng lại vùng xương khớp bị tổn thương, và bệnh nhân sẽ có thể phục hồi.
Để xác định bệnh, các bác sĩ thường cho chụp X-quang hoặc chụp cộng hưởng từ (MRI) vùng khớp xương bị đau, khi các dấu hiệu trên X quang rõ ràng thì thường hoại tử xương đã khó có thể phục hồi với điều trị không phẫu thuật. Hầu hết mọi người cần được điều trị phẫu thuật để ngăn ngừa tổn thương xương thêm, để bảo vệ xương và khớp, và cải thiện việc sử dụng khớp.
(một trường hợp hoại tử khớp do hóa trị ung thư phổi- Bệnh nhân không muốn bỏ ngón dù rất đau nhức, chỉ xin phẫu thuật lấy bỏ xương hoại tử)