Đào Gia Y Viện - Y Học Cổ Truyền Xương, Khớp, Nội Khoa

Đào Gia Y Viện - Y Học Cổ Truyền Xương, Khớp, Nội Khoa Cung cấp giải pháp trị liệu cho các PK - Spa dưỡng sinh mặt bệnh: Cơ xương khớp - Nội khoa

Lưu giữ - Phát triển YHCT

Tiêu cực BLOCK

01/09/2026

Tiểu đao châm

01/09/2026

CÁC ĐIỂM ĐAU - DẤU HIỆU - NGHIỆM PHÁP TRONG KHÁM TIÊU HÓA

I. Các điểm đau:

1. Điểm thượng vị: nằm ở giữa đường nối từ mũi ức tới rốn, đau trong loét dạ dày.

2. Điểm môn vị- hành tá tràng: Điểm tiếp giáp giữa rốn - hõm nách với đường ngang qua điểm thượng vị, đau trong loét mộn vị - hành tá tràng.

3. Điểm tá tuỵ: Điểm nằm trên đường rốn - hõm nách cách rốn khoảng 4cm. Đau trong loét tá tràng, viêm tuỵ cấp.

4. Tam giác tá tuỵ (Tam giác Chauffard): Là tam giác cân đỉnh hướng về rốn 2 cạnh là: đường ức- rốn và đường hõm nách phải - rốn , từ rốn lấy lên 5cm (đối với người thấp), 7cm đối với người cao. Đau trong loét tá tràng, viêm tuỵ cấp

5. Điểm Mayo- Robson: Là điểm sườn sống lưng bên trái. Điểm gặp nhau giữa cột sống và bờ dưới sương sườn XII. Đau gặp trong viêm tuỵ cấp.

Cơ chế : Có một phần thân và đuôi tuỵ không có phúc mạc phủ ( sau phúc mạc) do vậy khi viêm tuỵ cấp ấn vào vùng tuỵ này (điểm Mayo- Robson ) thấy đau.

6. Điểm túi mật: Điểm giao của bờ sườn với đường hõm nách phải- rốn hoặc điểm tiếp giáp bờ ngoài cơ thẳng bụng và bờ sườn phải . Đau trong viêm túi mật.

7. Điểm cạnh ức phải: Nằm ở dưới bờ sườn phải trên cơ thẳng to. Đau trong giun chui ống mật.

8. Điểm niệu quản trên: Nằm ở điểm giao nhau của đường ngang qua rốn vuông góc với đường thẳng giữa và bờ ngoài cơ thẳng to. Đau trong sỏi niệu quản.

9. Điểm niệu quản giữa: Điểm nối 1/3 ngoài và 2/3 trong đường nối 2 g*i chậu trước trên.(Nêu cách xác định g*i chậu trước trên?)

10. Điểm niệu quản dưới : Nằm trong thành bàng quang chỗ niệu quản đổ vào bàng quang. Không sờ được phải thăm trực tràng hoặc âm đạo

11. Điểm buồng trứng: Nằm ở giữa đường nối từ g*i chậu trước trên đến g*i mu.

Các điểm đau của ruột thừa:

12. Điểm Mac- Burney: Nằm ở giữa đường nối từ rốn đến g*i chậu trước trên bên phải.

13. Điểm Clado: Nằm ở giao điểm đường nối 2 g*i chậu trước trên và bờ ngoài cơ thẳng to bên phải.

14. Điểm Lanz: Ở chỗ nối tiếp giữa 1/3 ngoài và 2/3 trong của đường nối 2 g*i chậu trước trên( trùng với điểm niệu quản giữa bên phải)

II. Các dấu hiệu và nghiệm pháp:

1. Dấu hiệu Bouvret: Dạ dày giãn to thỉnh thoảng nhìn thấy từng đợt sóng nhu động nổi nhẹ dưới da bụng. Nếu đặt áp cả bàn tay lên thành bụng ở vùng trên rốn sẽ thấy dạ dày giãn căng nổi lên rồi chìm xuống từng đợt .Gặp trong hẹp môn vị Cơ chế: Khi bị hẹp môn vị thức ăn không xuống được dạ dày, dạ dày phản ứng bằng cách tăng co bóp để tống thức ăn xuống tá tràng, do đó nhu động dạ dày tăng lên, áp sát tay vào vùng thượng vị sẽ thấy sóng nhu động dạ dày .

2. Dấu hiệu lắc óc ách lúc đói: Để 2 bàn tay vào 2 cánh chậu lắc mạnh và đều sang 2 bên. Trong hẹp môn vị sẽ nghe thấy tiếng óc ách như lắc một chai nước. Cơ chế: do dịch trong dạ dày không xuống dược tá tràng khi lắc gây ra tiếng óc ách (lưu ý lắc lúc đói mới có giá trị)

3. Dấu hiệu Murphy: Để các ngón tay ở điểm túi mật, khi bệnh nhân thở ra ấn sâu các ngón tay xuống và đưa lên trên về phía cơ hoành rồi để yên ở áp lực đó.Bảo bệnh nhân hít vào cơ hoành đẩy túi mật xuống chạm vào đầu ngón tay .Trường hợp bình thường bệnh nhân hít vào bình thường, nếu túi mật bị tổn thương thì bệnh nhân sẽ đau và ngừng thở ngay → DH Murphy (+) gặp trong viêm túi mật xơ teo.

Chú ý:

- Trước khi làm DH này cần xác định xem gan có to không từ đó xác định điểm túi mật

- Chỉ làm khi nhìn túi mật không to vì túi mật to ấn vào có thể gây vỡ túi mật, mật vào ổ phúcmạc gây viêm phúc mạc mật.

4. Dấu hiệu Ludlow: Lấy ngón tay ấn vào kẽ liên sườn ở vùng gan trong trường hợp áp xe gan thì bệnh nhân cảm thấy rất đau → DH Ludlow (+).

5. Dấu hiệu rung gan: Bàn tay trái áp nhẹ lên vùng gan các ngón tay để ở kẽ liên sườn, dùng bờ ngoài tay phải chặt từ nhẹ đến mạnh vừa vào mu các ngon tay trái, bệnh nhân đau → DH rung gan (+) gặp trong áp xe gan.

6. Dấu hiệu bập bềnh thận: Bệnh nhân nằm ngửa, gối gấp. Tay của thầy thuốc cùng bên với thận cần khám để ở dưới bờ sườn , tay kia để ở góc sườn thắt lưng. Tay phía trên ấn nhẹ xuống rồi để yên tại đó, trong khi đó tay phía sau hất mạnh lên từng đợt ph¶i làm nhanh và nhịp nhàng . Nếu thận to tay phía trên có cảm giác khối u chạm vào → DH bập bềnh thận(+).

7. Dấu hiệu chạm thận: Tay để như trên, nhưng tay trên bụng ấn xuống tay sau lưng có cảm giác khối u chạm vào → DH chạm thận (+).

8. Dấu hiệu rắn bò: Lấy tay kích thích trên thành bụng sẽ thấy sóng nhu động của ruột, nhìn trên thành bụng thấy các sóng giống như rắn bò, gặp trong tắc ruột cơ học.

Các dấu hiệu của viêm ruột thừa cấp:

9. Dấu hiệu Schotkin- Blumberg: Lấy ngón tay ấn từ từ thành bụng ở HCP xuống sâu càng tốt đến khi bắt đầu thấy đau, rồi đột nhiên bỏ tay ra nhanh. Bình thường người ta không cảm thấy đau, khi bị viêm phúc mạc thì bệnh nhân sẽ cảm thấy đau dữ dội.

10. Dấu hiệu Blumberg: Như DH Schotkin- Blumberg nhưng ở toàn ổ bụng

11. Dấu hiệu Obrasov: Bệnh nhân nằm ngửa chân duỗi thẳng, thầy thuốc dùng bàn tay trái ấn nhẹ vùng hố chậu phải đến khi bệnh nhân bắt đầu thấy đau thì giữ nguyên ay ở vị trí đó, tay phải đỡ cẳng chân phải gấp đùi vào bụng. Nếu viêm ruột thừa thì bệnh nhân thấy đau tăng ở HCP

12. Dấu hiệu Siskovski: Bảo bệnh nhân nằm nghiêng sang bên trái bệnh nhân thấy đau ở HCP.

13. Nghiệm pháp phản hồi gan - tĩnh mạch cảnh: Áp bàn tay phải vào vùng gan to dưới bờ sườn ấn từ nhẹ đến mạnh dần đồng thời quan sát tĩnh mạch cảnh phải của bệnh nhân (bệnh nhân nghiêng đầu sang trái). Nếu tm cảnh nổi rõ dần lên, khi bỏ tay ra thì tm lại nhỏ đi như cũ →NP phản hồi gan tĩnh mạch cảnh (+): gặp trong gan ứ máu do suy tim phải. Khi gan xơ thì nghiệm pháp này âm tính.

14. Phản ứng cơ thành bụng: Nếu đặt tay nhẹ lên thành bụng vẫn thấy mềm nhưng khi ấn sâu xuống thì cảm thâý sự chống đối của các cơ ở dưới → Có phản ứng cơ thành bụng: gặp trong viêm phúc mạc.

15. Dấu hiệu sóng vỗ: Người phụ chặn bàn tay lên đỉnh ổ bụng người khám lấy 1 bàn tay áp vào 1 bên thành bụng, tay kia vỗ nhẹ hoặc búng vào thành bên đối diện sẽ thấy cảm giác sóng dội vào lòng bàn tay bên đối diện → Dh sóng vỗ (+): cổ trướng mức độ trung bình và nhiều

16. Dấu hiệu cục đá nổi : Lấy tay ấn nhanh vào thành bụng sẽ đụng vào một vật cứng rồi biến mất ngay giống như cục đá hoặc quả trứng nổi trong nước. Dấu hiệu cục đá nổi dương tính chứng tỏ có một khối u tự do nổi trong dịch cổ trướng, thường là lách to

01/09/2026
01/09/2026

Chích Lễ Điều Trị Đau Khớp Gối: Giải Pháp Khử Ứ Thông Lạc Hiệu Quả Theo Đông Y

Đau khớp gối trong Y học cổ truyền (YHCT) thuộc phạm vi chứng Tất Tý. Đây là tình trạng khí huyết ứ trệ tại khớp do sự xâm nhập của các tà khí Phong - Hàn - Thấp. Liệu pháp chích lễ (chích lạc phóng huyết) là phương pháp điều trị đặc hiệu giúp khai thông bế tắc, giảm đau và phục hồi vận động khớp gối nhanh chóng.

1. Hiểu Về Chứng Tất Tý (Đau Khớp Gối)
Định nghĩa và Biểu hiện
Chứng Tý phát sinh khi cơ thể bị ngoại tà xâm nhập làm kinh lạc không thông ("bất thông tắc thống").

Tây y: Tương đương với viêm khớp dạng thấp, thoái hóa khớp, loãng xương.

Triệu chứng: Đau nhức, tê dại, sưng nóng hoặc vận động co duỗi khó khăn. Trường hợp nặng có thể gây biến dạng khớp.

Phân loại theo tà khí
Hành Tý: Đau di chuyển nhiều vị trí (do Phong).

Thống Tý: Đau dữ dội, gặp lạnh đau tăng (do Hàn).

Trứ Tý: Đau cố định, kèm cảm giác nặng nề (do Thấp).

Nhiệt Tý: Khớp sưng, nóng, đỏ, đau đột ngột (do Nhiệt).

2. Nguyên Lý Chẩn Đoán Trước Khi Chích Lễ
Để đạt hiệu quả cao, thầy thuốc cần biện chứng dựa trên 3 yếu tố cốt lõi:

Biện thể chất: Quan sát dấu hiệu huyết ứ như mặt sạm, môi thâm, móng tay tím, tĩnh mạch dưới lưỡi nổi căng.

Biện lạc mạch: Tìm các mạch máu li ti màu tím sẫm hoặc đám ứ lạc quanh vùng khớp gối.

Biện bì bộ (Kinh lạc): Xác định vị trí ứ lạc thuộc kinh nào (Thái Dương, Dương Minh, Thiếu Dương...) để lựa chọn huyệt vị chích huyết phù hợp.

3. Phác Đồ Điều Trị Đau Khớp Gối Tổng Hợp
Việc kết hợp Chích lễ - Châm cứu - Phúc châm giúp xử lý cả phần "Ngọn" (cơn đau) và phần "Gốc" (tạng phủ suy yếu).

3.1. Liệu pháp Chích Lễ (Khử ứ thông lạc)
Thầy thuốc sẽ chích tại các điểm ứ lạc quanh khớp gối. Các huyệt đạo chủ chốt bao gồm:

Vùng sau gối: Ủy Trung, Ủy Dương (Kinh Thái Dương).

Vùng trước và cạnh gối: Lương Khâu, Tất Nhãn, Dương Lăng Tuyền, Huyết Hải.

Tác dụng: Loại bỏ huyết ứ, thúc đẩy tân huyết sinh ra, tiêu sưng và giảm đau tức thì.

3.2. Phúc châm (Điều hòa khí cơ)
Sử dụng các huyệt vùng bụng để bồi bổ nguyên khí:

Huyệt đạo: Trung Quản, Hạ Quản, Khí Hải, Quan Nguyên (Dẫn khí quy nguyên).

Công năng: Điều hòa trung tiêu, ích thận, giúp cơ thể tự phục hồi từ bên trong.

3.3. Thể châm và Cứu (Bổ can thận, tán hàn)
Châm bổ: Tam Âm Giao (dưỡng huyết), Tuyệt Cốt (ích tủy sinh xương).

Châm tả: Dương Lăng Tuyền (thư cân), Cách Du (hóa ứ).

Cứu ngải: Thực hiện tại các điểm đau (A thị huyệt) và vùng bụng để ôn kinh tán hàn, đặc biệt hiệu quả với người sợ lạnh, đau tăng khi thời tiết thay đổi.

4. Ca Lâm Sàng Minh Họa
Bệnh nhân: Nữ, 67 tuổi, đau khớp gối 6 năm, có chỉ định thay khớp nhưng lựa chọn điều trị bảo tồn.

Tình trạng: Khớp gối sưng đau, đi lại khó khăn, chi dưới sợ lạnh, lưỡi có điểm ứ huyết rõ.

Kết quả: Sau 2 liệu trình kết hợp Chích lễ vùng bì bộ và Phúc châm, bệnh nhân hết sưng đau, vận động linh hoạt và không cần phẫu thuật thay khớp.

5. Chế Độ Điều Dưỡng Và Chăm Sóc Lâu Dài
Để ngăn ngừa tái phát, người bệnh cần chú trọng dưỡng sinh:

Món ăn bài thuốc: Canh Ô kê - Đương quy - Tam thất. Giúp bổ huyết, hoạt huyết và cường mạnh gân xương.

Tự xoa bóp: Thường xuyên day ấn các huyệt Túc Tam Lý, Huyết Hải, Tam Âm Giao (mỗi huyệt 100-300 lần) để thúc đẩy lưu thông máu.

Giữ ấm: Luôn giữ ấm khớp gối, tránh để phong hàn thấp xâm nhập.

Lời khuyên: Liệu pháp chích lễ là kỹ thuật chuyên sâu, cần được thực hiện bởi bác sĩ có chuyên môn tại các cơ sở Y học cổ truyền uy tín để đảm bảo an toàn và hiệu quả.

01/09/2026

Bí Quyết Sử Dụng Xuyên Khung: Nghệ Thuật Điều Chỉnh Liều Lượng Để Trị Bệnh Tận Gốc

Trong Đông y, Xuyên Khung được mệnh danh là "khí thuốc trong huyết", có khả năng đi lên đầu mặt, xuống đến huyết hải và sang tận hai bên hông sườn. Tuy nhiên, để vị thuốc này phát huy đúng tác dụng tại từng vị trí, người thầy thuốc phải nắm vững bí quyết về liều lượng. Cổ nhân có câu: "Truyền phương truyền dược bất truyền liều lượng, tức như không truyền" – chính là để nhấn mạnh tầm quan trọng này.

1. Liều Nhẹ (3g – 5g): Hành Khí Khu Phong, Trị Đau Đầu Mặt
Khi muốn đưa dược tính lên vùng Thượng tiêu (đầu, mặt, mắt), chúng ta phải tuân theo nguyên tắc: "Trị thượng tiêu như vũ" (Trị phần trên như lông vũ, phải nhẹ mới bay lên được).

Tác dụng: Ở liều thấp, Xuyên Khung đóng vai trò là một vị "phong dược". Nó giúp hành khí hoạt huyết, khu phong tán hàn tại vùng đỉnh đầu – nơi vốn được coi là vị trí khó dẫn thuốc tới nhất.

Chỉ định: Đặc trị các chứng đau đầu, đau mắt, hoa mắt do phong tà xâm nhập.

2. Liều Trung Bình (10g): Sơ Can Giải Uất, Trị Đau Tức Hông Sườn
Để thuốc dừng lại và làm việc tại vùng Trung tiêu (ngực, bụng trên, mạn sườn), nguyên tắc là: "Trị trung tiêu như hằng" (Trị phần giữa như đòn gánh, phải thăng bằng để vận hóa).

Tác dụng: Liều lượng khoảng 10g giúp Xuyên Khung phát huy khả năng sơ tiết can khí, giải tỏa uất kết mà không bị tán đi quá xa.

Chỉ định: Dùng trong các bài thuốc như Sài hồ sơ can tán để trị chứng tức ngực, đầy sườn, can khí uất kết. Đây là liều lượng "vàng" để khai uất giải kết hiệu quả.

3. Liều Cao (15g trở lên): Phá Ứ Thông Kinh, Dẫn Thuốc Xuống Huyết Hải
Đối với các bệnh lý tại Hạ tiêu (bụng dưới, cơ quan sinh dục), nguyên tắc cần nhớ là: "Trị hạ tiêu như quyền" (Trị phần dưới như quả cân, phải nặng mới chìm xuống được).

Tác dụng: Liều cao tạo ra sức nặng dược tính để đẩy khí huyết xuống tận vùng Huyết hải. Tại đây, Xuyên Khung thực hiện nhiệm vụ hoạt huyết phá ứ, thông điều huyết mạch mạnh mẽ.

Chỉ định: Trị đau bụng kinh do ứ huyết, hoặc chứng "huyết bế vô tử" (vô sinh do huyết ứ) ở phụ nữ như Thần Nông Bản Thảo Kinh đã ghi chép.

Xuyên Khung: Vị Thuốc Đa Năng Cho Khí, Huyết Và Phong
Khó trách cổ nhân lại ca tụng Xuyên Khung có thể trị được "Hết thảy Khí - Hết thảy Huyết - Hết thảy Phong - Hết thảy Hư tổn". Dù là thực chứng hay hư chứng, vị thuốc này đều thể hiện vai trò hành tán vô cùng quý báu:

Kết thì tán: Phá tan sự tích tụ của huyết ứ.

Uất thì thông: Làm thông suốt sự đình trệ của can khí.

Bế thì khai: Mở ra con đường vận hành cho khí huyết khi bị tắc nghẽn.

Kết luận
Nắm vững liều lượng Xuyên Khung chính là nắm giữ chiếc chìa khóa điều phối khí huyết trong cơ thể. Chỉ cần hiểu rõ nguyên lý "nhẹ để bay lên, nặng để chìm xuống", bạn sẽ sử dụng Xuyên Khung một cách linh hoạt và đạt hiệu quả lâm sàng tối ưu nhất.

01/09/2026

BỔ MÀ KHÔNG TRỆ MỚI LÀ ĐẠI ĐẠO CỦA PHÉP BỔ

Một nữ bệnh nhân, 41 tuổi, đến khám vì đầu óc suốt ngày mê muội, nặng nề không tỉnh táo, kèm tâm phiền, đa mộng, ngủ kém. Tỳ Vị, ăn uống cùng đại tiểu tiện cơ bản vẫn bình thường. Bệnh đã kéo dài hơn một tuần.

Sau khi chẩn mạch xong, Thầy Trương nói: Đây là điển hình của âm tinh hư tổn, hư hỏa thượng cang.

Nghe vậy, lúc thầy kê phương, chúng tôi tranh thủ bắt mạch lại cho bệnh nhân. Quả nhiên thấy mạch hai tay huyền tế, mạch thế nổi vượt lên trên rõ rệt, đặc biệt mạch song xích nhỏ đến mức khó bắt được.

Thầy quay sang hỏi: Âm hư hỏa vượng, hư phiền bất đắc miên thì dùng phương gì?

Vương Thái Linh lần này phản ứng rất nhanh: Hoàng Liên A Giao Thang.

Thầy gật đầu hài lòng: Thiếu âm bệnh, đắc chi nhị tam nhật dĩ thượng, tâm trung phiền, bất đắc ngọa, Hoàng Liên A Giao Thang chủ chi. Lấy Hoàng Liên A Giao Thang làm nền là được.

Đỗ tỷ liền hỏi: Thế còn chứng đầu choáng của bệnh nhân là do đâu?

Thầy đáp: Song mạch thượng việt, chứng tỏ trọc âm không giáng. Mạch huyền tế là âm hư không nhu dưỡng được lên trên, đương nhiên đầu sẽ mê muội nặng nề.

Vừa nói, thầy vừa kê đơn: Hoàng Liên 5 gam, Long Cốt 20 gam, Hoàng Cầm 10 gam, Mẫu Lệ 30 gam, Bạch Thược 20 gam, Bán Hạ 40 gam, A Giao 15 gam, Tế Tân 5 gam, Kê tử hoàng 1 quả.

Toàn phương lấy Hoàng Liên A Giao Thang gia Long Cốt, Mẫu Lệ, Bán Hạ để giáng nghịch, liễm âm. Nhưng tôi không hiểu vì sao lại dùng thêm Tế Tân. Tế Tân vị cay nồng rất mạnh, sức phát động cực lớn, tính chạy tán mạnh mẽ, dễ hao tán khí huyết. Dùng trong trường hợp này chẳng phải sẽ làm khí huyết càng bốc nghịch lên sao? Tôi đem thắc mắc ấy hỏi Thầy Trương.

Thầy giải thích: Hoàng Liên A Giao Thang gia Long Cốt, Mẫu Lệ, Bán Hạ thì sức dưỡng âm, thu liễm, giáng xuống rất mạnh, dược lực thiên về “tĩnh”. Nhưng tĩnh mà không động thì thuốc bổ sẽ dễ ngưng trệ, kết lại một chỗ, không phát huy được tác dụng. Lúc này thêm một vị Tế Tân để phối hợp động tĩnh, giống như con người có hô có hấp, cả bài thuốc liền sống dậy. Như vậy là “ư dương trung cầu âm”, bổ âm mà không bị ứ trệ, hiệu quả mới tốt.

Nghe đến đây tôi mới bừng tỉnh đại ngộ. Tôi nhớ lại trước đây, khi điều trị những bệnh nhân thức đêm lâu ngày, mạch biểu hiện hư phiền mà đại, dùng trọng lượng A Giao thường hiệu quả rất nhanh. Nhưng khi mạch từ hư đại chuyển về hòa hoãn thì lại xuất hiện cảm giác thực trệ. Hóa ra chính là vì thuốc quá thiên về liễm bổ, quá tĩnh mà thiếu động.

Tôi lại hỏi: Vậy khi bổ dương có phải cũng cần phối hợp động tĩnh như vậy không?

Thầy đáp: Cũng như nhau thôi. Bất luận bổ âm hay bổ dương đều phải chú trọng động tĩnh phối hợp, tuần hoàn lưu thông. Khiến bổ mà không trệ, đó mới là đại đạo của phép bổ.

Thầy tiếp tục giảng: Ví như dùng lượng lớn Phụ Tử, hỏa lực quá mạnh, động lực quá lớn thì rất dễ sinh chuyện. Lúc này phải dùng một số vị thuốc mang tính “tĩnh” để chế ước nó. Chẳng hạn thêm một vị Chích Cam Thảo để phục hỏa, hoãn cái gấp; hoặc thêm Từ Thạch, hay Long Cốt, Mẫu Lệ để tiềm phục hỏa lực của nó.

Lại như khi ôn bổ Tâm dương, phải chú ý thông lợi khí cơ Trường Vị. Có như vậy Tâm dương mới giáng xuống Tiểu Trường, Tâm với Tiểu Trường biểu lý tương thông, khí cơ tuần hoàn thì dược lực mới thực sự bổ vào được. Nếu không ngược lại sẽ ủng trệ mà hóa thành nhiệt tà.

Lúc ấy tôi mới hiểu vì sao mỗi lần điều trị chứng Thận hư đau lưng, thầy dùng các vị như Đỗ Trọng, Tang Ký Sinh, Xuyên Tục Đoạn, Nhục Thung Dung, Ba Kích Thiên để bổ Thận, đồng thời thường gia thêm Cẩu Tích hoặc Thương Nhĩ Tử để thăng dương, thông Đốc mạch. Chính là để dẫn lực của thuốc bổ Thận lưu thông theo Đốc mạch.

Hơn nữa, đồng thời với đó, thầy còn thường tùy tình huống mà gia Chỉ Thực, Trúc Nhự để giáng Nhâm mạch, khiến Đốc mạch và Nhâm mạch tuần hoàn lưu thông với nhau, dược lực mới có thể phát huy tác dụng.

Mà trong việc dùng thuốc bổ Thận khí, thầy vận dụng Đỗ Trọng, Tang Ký Sinh và Xuyên Tục Đoạn vô cùng linh hoạt.
Thông thường, liều lượng thầy hay dùng là: Đỗ Trọng 30 gam, Tang Ký Sinh 20 gam, Xuyên Tục Đoạn 20 gam

Nhưng đối với bệnh nhân hạ tiêu tà khí nặng, dương khí uất bế không thăng được, thầy sẽ giảm Đỗ Trọng xuống còn 20 gam, Tang Ký Sinh còn 15 gam, riêng Xuyên Tục Đoạn vẫn giữ 20 gam. Đó là vì Đỗ Trọng và Tang Ký Sinh thiên về liễm bổ, nên cần giảm lượng để tránh ngưng trệ. Còn Xuyên Tục Đoạn là “bổ trung hữu thông”, bổ mà vẫn thông đạt, nên dùng lượng lớn cũng không sao.

Có lúc thầy dùng Đỗ Trọng chỉ còn 10 gam. Khi ấy, mục đích của Đỗ Trọng không còn là để đại bổ Thận khí nữa, mà chủ yếu dùng như vị thuốc dẫn.

Ngoài ra, mỗi lần thầy dùng lượng lớn Hoàng Kỳ để bổ Phế khí, giúp Phế thực hiện chức năng túc giáng, điều trị Phế khí hư, trọc khí không giáng được, thầy đều gia thêm một vị Tri Mẫu. Chính là lấy âm của Tri Mẫu để nghênh đón dương của Hoàng Kỳ, khiến âm dương hòa hợp hóa thành mưa móc, từ đó Phế khí mới có thể giáng xuống.

Nếu chỉ đơn độc dùng lượng lớn Hoàng Kỳ, thì độc dương sẽ bị bế ở Phế, bệnh nhân sẽ xuất hiện phiền muộn, toàn thân phát nhiệt.
Nói thật, kiểu dùng thuốc của những “dũng phu” như vậy, trên lâm sàng gặp vô cùng nhiều. Thậm chí đôi lúc ngay cả bản thân tôi cũng từng phạm phải sai lầm ấy mà không tự biết.
ST

31/08/2026

Đồng hình
Đau ngực tim
Đau cổ - răng
Dây ấn nhiều lần bên đối

Mai Hạch Khí (Cảm Giác Vướng Họng Do Căng Thẳng)Bạn từng có cảm giác họng bị vướng như có hạt mai/cục nghẹn, nuốt không ...
31/08/2026

Mai Hạch Khí (Cảm Giác Vướng Họng Do Căng Thẳng)

Bạn từng có cảm giác họng bị vướng như có hạt mai/cục nghẹn, nuốt không xuống, khạc không ra nhưng lại không hề đau hay ngứa? Rất có thể bạn đang gặp phải Chứng Mai Hạch Khí

1. Dấu hiệu nhận biết đặc trưng
Cảm giác: Họng như có vật tắc nghẽn, không đau, không ngứa, không cứng.
Yếu tố tâm lý: Bệnh biến đổi theo tâm trạng. Khi vui vẻ, thoải mái thì triệu chứng nhẹ/biến mất; khi bực bội, căng thẳng hay suy nghĩ nhiều thì triệu chứng nặng hơn.
Đối tượng: Thường gặp nhiều ở phụ nữ.
Nguyên nhân Đông y: Do Can uất đàm thịnh xâm nhập vào vùng hầu họng.

2. Phân biệt với các bệnh lý khác
Viêm họng (Chứng hầu tý): Họng khó chịu, có thể nổi mụn đỏ, đau rát.
Mắc xương: Khó chịu vùng họng, khi khám hoặc chụp phim xác định có xương/dị vật thật.

3. Triệu chứng & Phương pháp điều trị theo Đông y

Thể Can uất khí trệ:
Dấu hiệu: Họng tắc nghẽn thay đổi lúc nặng lúc nhẹ, ợ hơi, ngực sườn đầy tức, kinh nguyệt không đều, căng sưng vú khi hành kinh, lưỡi đỏ sẫm.
Phép trị: Sơ can lý khí.
Bài thuốc: Sài hồ sơ can tán.

Thể Can uất tỳ hư:
Dấu hiệu: Nghẹt họng, ngực bụng đầy tức, ăn kém, mệt mỏi, lưỡi lạt, mạch nhược.
Phép trị: Sơ can lý tỳ.
Bài thuốc: Tiêu dao tán gia giảm.

Thể Đàm khí uất kết:
Dấu hiệu: Họng nóng, đàm đặc, ngực bụng đầy, lợm giọng buồn nôn, ăn vào nhanh đầy bụng, rêu lưỡi hoạt.
Phép trị: Hành khí hóa đàm.
Bài thuốc: Bán hạ hậu phác thang.

Lưu ý: Thông tin mang tính chất tham khảo do Đào Gia Y Viện cung cấp kiến thức không phải lời khuyên điều trị. Khi có triệu chứng, người bệnh nên thăm khám bác sĩ Y học cổ truyền để được kê đơn và gia giảm liều lượng phù hợp.

Bộ y tế cập nhật tập 3 chẩn đoán và đtri Yhct vs Yhhd
26/08/2026

Bộ y tế cập nhật tập 3 chẩn đoán và đtri Yhct vs Yhhd

26/08/2026

Đau lưng trên

Address

Vinhomes Ocean Park 2
Hung Yen
17660

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Đào Gia Y Viện - Y Học Cổ Truyền Xương, Khớp, Nội Khoa posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Shortcuts

Share