01/09/2026
BỔ MÀ KHÔNG TRỆ MỚI LÀ ĐẠI ĐẠO CỦA PHÉP BỔ
Một nữ bệnh nhân, 41 tuổi, đến khám vì đầu óc suốt ngày mê muội, nặng nề không tỉnh táo, kèm tâm phiền, đa mộng, ngủ kém. Tỳ Vị, ăn uống cùng đại tiểu tiện cơ bản vẫn bình thường. Bệnh đã kéo dài hơn một tuần.
Sau khi chẩn mạch xong, Thầy Trương nói: Đây là điển hình của âm tinh hư tổn, hư hỏa thượng cang.
Nghe vậy, lúc thầy kê phương, chúng tôi tranh thủ bắt mạch lại cho bệnh nhân. Quả nhiên thấy mạch hai tay huyền tế, mạch thế nổi vượt lên trên rõ rệt, đặc biệt mạch song xích nhỏ đến mức khó bắt được.
Thầy quay sang hỏi: Âm hư hỏa vượng, hư phiền bất đắc miên thì dùng phương gì?
Vương Thái Linh lần này phản ứng rất nhanh: Hoàng Liên A Giao Thang.
Thầy gật đầu hài lòng: Thiếu âm bệnh, đắc chi nhị tam nhật dĩ thượng, tâm trung phiền, bất đắc ngọa, Hoàng Liên A Giao Thang chủ chi. Lấy Hoàng Liên A Giao Thang làm nền là được.
Đỗ tỷ liền hỏi: Thế còn chứng đầu choáng của bệnh nhân là do đâu?
Thầy đáp: Song mạch thượng việt, chứng tỏ trọc âm không giáng. Mạch huyền tế là âm hư không nhu dưỡng được lên trên, đương nhiên đầu sẽ mê muội nặng nề.
Vừa nói, thầy vừa kê đơn: Hoàng Liên 5 gam, Long Cốt 20 gam, Hoàng Cầm 10 gam, Mẫu Lệ 30 gam, Bạch Thược 20 gam, Bán Hạ 40 gam, A Giao 15 gam, Tế Tân 5 gam, Kê tử hoàng 1 quả.
Toàn phương lấy Hoàng Liên A Giao Thang gia Long Cốt, Mẫu Lệ, Bán Hạ để giáng nghịch, liễm âm. Nhưng tôi không hiểu vì sao lại dùng thêm Tế Tân. Tế Tân vị cay nồng rất mạnh, sức phát động cực lớn, tính chạy tán mạnh mẽ, dễ hao tán khí huyết. Dùng trong trường hợp này chẳng phải sẽ làm khí huyết càng bốc nghịch lên sao? Tôi đem thắc mắc ấy hỏi Thầy Trương.
Thầy giải thích: Hoàng Liên A Giao Thang gia Long Cốt, Mẫu Lệ, Bán Hạ thì sức dưỡng âm, thu liễm, giáng xuống rất mạnh, dược lực thiên về “tĩnh”. Nhưng tĩnh mà không động thì thuốc bổ sẽ dễ ngưng trệ, kết lại một chỗ, không phát huy được tác dụng. Lúc này thêm một vị Tế Tân để phối hợp động tĩnh, giống như con người có hô có hấp, cả bài thuốc liền sống dậy. Như vậy là “ư dương trung cầu âm”, bổ âm mà không bị ứ trệ, hiệu quả mới tốt.
Nghe đến đây tôi mới bừng tỉnh đại ngộ. Tôi nhớ lại trước đây, khi điều trị những bệnh nhân thức đêm lâu ngày, mạch biểu hiện hư phiền mà đại, dùng trọng lượng A Giao thường hiệu quả rất nhanh. Nhưng khi mạch từ hư đại chuyển về hòa hoãn thì lại xuất hiện cảm giác thực trệ. Hóa ra chính là vì thuốc quá thiên về liễm bổ, quá tĩnh mà thiếu động.
Tôi lại hỏi: Vậy khi bổ dương có phải cũng cần phối hợp động tĩnh như vậy không?
Thầy đáp: Cũng như nhau thôi. Bất luận bổ âm hay bổ dương đều phải chú trọng động tĩnh phối hợp, tuần hoàn lưu thông. Khiến bổ mà không trệ, đó mới là đại đạo của phép bổ.
Thầy tiếp tục giảng: Ví như dùng lượng lớn Phụ Tử, hỏa lực quá mạnh, động lực quá lớn thì rất dễ sinh chuyện. Lúc này phải dùng một số vị thuốc mang tính “tĩnh” để chế ước nó. Chẳng hạn thêm một vị Chích Cam Thảo để phục hỏa, hoãn cái gấp; hoặc thêm Từ Thạch, hay Long Cốt, Mẫu Lệ để tiềm phục hỏa lực của nó.
Lại như khi ôn bổ Tâm dương, phải chú ý thông lợi khí cơ Trường Vị. Có như vậy Tâm dương mới giáng xuống Tiểu Trường, Tâm với Tiểu Trường biểu lý tương thông, khí cơ tuần hoàn thì dược lực mới thực sự bổ vào được. Nếu không ngược lại sẽ ủng trệ mà hóa thành nhiệt tà.
Lúc ấy tôi mới hiểu vì sao mỗi lần điều trị chứng Thận hư đau lưng, thầy dùng các vị như Đỗ Trọng, Tang Ký Sinh, Xuyên Tục Đoạn, Nhục Thung Dung, Ba Kích Thiên để bổ Thận, đồng thời thường gia thêm Cẩu Tích hoặc Thương Nhĩ Tử để thăng dương, thông Đốc mạch. Chính là để dẫn lực của thuốc bổ Thận lưu thông theo Đốc mạch.
Hơn nữa, đồng thời với đó, thầy còn thường tùy tình huống mà gia Chỉ Thực, Trúc Nhự để giáng Nhâm mạch, khiến Đốc mạch và Nhâm mạch tuần hoàn lưu thông với nhau, dược lực mới có thể phát huy tác dụng.
Mà trong việc dùng thuốc bổ Thận khí, thầy vận dụng Đỗ Trọng, Tang Ký Sinh và Xuyên Tục Đoạn vô cùng linh hoạt.
Thông thường, liều lượng thầy hay dùng là: Đỗ Trọng 30 gam, Tang Ký Sinh 20 gam, Xuyên Tục Đoạn 20 gam
Nhưng đối với bệnh nhân hạ tiêu tà khí nặng, dương khí uất bế không thăng được, thầy sẽ giảm Đỗ Trọng xuống còn 20 gam, Tang Ký Sinh còn 15 gam, riêng Xuyên Tục Đoạn vẫn giữ 20 gam. Đó là vì Đỗ Trọng và Tang Ký Sinh thiên về liễm bổ, nên cần giảm lượng để tránh ngưng trệ. Còn Xuyên Tục Đoạn là “bổ trung hữu thông”, bổ mà vẫn thông đạt, nên dùng lượng lớn cũng không sao.
Có lúc thầy dùng Đỗ Trọng chỉ còn 10 gam. Khi ấy, mục đích của Đỗ Trọng không còn là để đại bổ Thận khí nữa, mà chủ yếu dùng như vị thuốc dẫn.
Ngoài ra, mỗi lần thầy dùng lượng lớn Hoàng Kỳ để bổ Phế khí, giúp Phế thực hiện chức năng túc giáng, điều trị Phế khí hư, trọc khí không giáng được, thầy đều gia thêm một vị Tri Mẫu. Chính là lấy âm của Tri Mẫu để nghênh đón dương của Hoàng Kỳ, khiến âm dương hòa hợp hóa thành mưa móc, từ đó Phế khí mới có thể giáng xuống.
Nếu chỉ đơn độc dùng lượng lớn Hoàng Kỳ, thì độc dương sẽ bị bế ở Phế, bệnh nhân sẽ xuất hiện phiền muộn, toàn thân phát nhiệt.
Nói thật, kiểu dùng thuốc của những “dũng phu” như vậy, trên lâm sàng gặp vô cùng nhiều. Thậm chí đôi lúc ngay cả bản thân tôi cũng từng phạm phải sai lầm ấy mà không tự biết.
ST