14/05/2026
NHẬN DIỆN VÀ KHẮC PHỤC NHỮNG SAI LẦM, THIẾU SÓT TRONG CHỈ ĐỊNH, TƯ VẤN SỬ DỤNG THUỐC TỪ PHÍA CÁN BỘ Y TẾ
(DSCKI Trần Đình Bách tổng hợp và biên soạn tháng 01.2026)
Trong kỷ nguyên y học dựa trên bằng chứng, quá trình chỉ định thuốc không chỉ dừng lại ở việc "đúng bệnh" mà còn phải đảm bảo "tối ưu hóa điều trị" và "an toàn cho người bệnh". Tuy nhiên, trên thực tế, vẫn còn tồn tại nhiều sai lầm trong chỉ định và tư vấn sử dụng thuốc từ phía cán bộ y tế kể cả y bác sĩ và dược sĩ. Xuất phát điểm là từ áp lực lâm sàng, thói quen nghề nghiệp đi đôi với thiếu cập nhật kiến thức, cũng như từ sự tác động của người bệnh.
Phạm vi bài viết này đề cập, tập trung phân tích nhóm các sai lầm về kiến thức và nguyên tắc chuyên môn thường gặp, cơ chế gây hại, cũng như hệ quả giữa lâm sàng với kinh tế, xã hội. Mặt khác qua đây, mong muốn đề xuất đóng góp các định hướng khắc phục nhằm nâng cao chất lượng đào tạo và thực hành y dược.
I. NHỮNG VẤN ĐỀ KHÁI QUÁT CHUNG:
Trong bối cảnh đa bệnh lý, đa thuốc ngày càng phong phú và đa dạng, thì nguy cơ sai sót liên quan đến thuốc và sử dụng thuốc không hợp lý vẫn thường xuyên xảy ra phổ biến, có tính hệ thống.
Đối với cán bộ y tế nói chung, việc nhận diện và phân tích đầy đủ các sai lầm, thiếu sót này không chỉ mang ý nghĩa nâng cao chất lượng thực hành lâm sàng mà còn có vai trò định hình tư duy sử dụng thuốc hợp lý, hiệu quả cho mỗi cá nhân thầy thuốc. Riêng đối với đội ngũ tham gia giảng dạy y, dược trong nhà trường thì đây cũng là những nét nhấn chỉ ra một số điểm yếu còn khiếm khuyết có thể gặp sau đào tạo, từ đó có định hướng chấn chỉnh tư duy cho các thế hệ người học trong quá trình đào tạo.
Đây không phải là lỗi cá biệt mà là những lệch chuẩn thực hành nghề mang tính hệ thống, có thể có nguy cơ lan truyền qua hoạt động giảng dạy nếu không được nhận diện và chỉnh lý kịp thời
II. NHỮNG SAI LẦM THƯỜNG GẶP TRONG CHỈ ĐỊNH VÀ TƯ VẤN SỬ DỤNG THUỐC
Trước tiên cần nhắc tới những sai lầm, tư duy lệch chuẩn, biểu hiện các “lỗ hổng” về kiến thức chuyên môn.
1. Nhiều cán bộ y tế còn mang tư duy "điều trị triệu chứng thay vì nguyên nhân". Không chú ý điều trị theo nguyên nhân, không tích cực tìm và xác định tác nhân gây bệnh, :
Đây là sai lầm cơ bản về nguyên tắc nhưng lại thường bị xem nhẹ trong thực hành điều trị. Cụ thể:
- Quan tâm điều trị triệu chứng kéo dài nhưng không tập trung hướng tới xác định rõ căn nguyên.
- Sử dụng kháng sinh, Corticoid hoặc thuốc giảm đau chống viêm như một biện pháp “điều trị thử” xem có hiệu quả không.
Hậu quả là che lấp biểu hiện bệnh, gây khó khăn cho chẩn đoán căn nguyên bệnh lý.
Tình huống cụ thể: Người bệnh sốt kéo dài, đau khớp, được dùng luân phiên NSAIDs và Corticoid trong nhiều tuần. Triệu chứng thuyên giảm chỉ nhất thời, nhưng không dứt điểm bệnh mà nặng dần lên; tới khi thăm khám đầy đủ, chẩn đoán sau cùng là do vi khuẩn lao khớp...
Mấu chốt ở đây là: Điều trị triệu chứng không thể và không bao giờ được thay thế cho điều trị nguyên nhân. Điều trị nguyên nhân luôn phải được đặt lên hàng đầu, mang tính quyết định và lâu bền.
(Nội dung đã đề cập trong bài đăng trên báo SKĐS: Những điều cơ bản khi dùng thuốc trị bệnh không phải ai cũng biết, xem thêm cụ thể “Những nguyên tắc cần biết khi sử dụng thuốc trị bệnh” tại phần 2 phụ lục kèm theo tài liệu này)
2. Tùy tiện trong phối hợp kháng sinh, không chú ý để mắc phải các tương tác bất lợi:
Đó là tình trạng:
- Phối hợp kháng sinh không hợp lý, nhiều trường hợp mắc sai lầm phối hợp kháng sinh đối kháng mà không hề chú ý. Trong tình trạng nhiễm khuẩn nặng, sự vô tình hay nhầm lẫn phối hợp kháng sinh không có tính hiệp đồng thì càng thêm bất lợi.
Thậm chí có trường hợp phối hợp kháng sinh không cần thiết với cả những ca bệnh nhẹ thông thường. Hay phối hợp nhiều kháng sinh phổ rộng khi không có bằng chứng nhiễm đồng thời nhiều
chủng vi khuẩn.
Ví dụ một tình huống: Viêm phế quản, phổi chỉ ở mức độ vừa, lại chỉ định đồng thời Beta lactam, Macrolid và Fluoroquinolon “cho chắc”. Sau vài ngày xảy ra tiêu chảy nặng, men gan tăng, quãng QT kéo dài. Xem xét kỹ hơn về cơ chế, bản chất thì điều này xảy ra là do có tương tác đối kháng.
Hậu quả cuối cùng là giảm hiệu quả điều trị, tăng phản ứng có hại (ADR), thúc đẩy cơ hội kháng kháng sinh.
Điều cần rút kinh nghiệm ở đây là: Biểu hiện sai lầm phối hợp kháng sinh chỉ rõ “lỗ hổng” về kiến thức dược và bộc lộ rõ thực trạng không chịu cập nhật chuyên môn khi nó luôn có thay đổi mới.
3. Lạm dụng Corticoid, đặc biệt là dùng thuốc dài ngày và tuỳ tiện về đợt dùng thuốc tiêm dạng tác dụng chậm.
- Nhiều thầy thuốc dùng Corticoid để "cắt nhanh triệu chứng" khi chưa có chẩn đoán bệnh rõ ràng. Hoặc có khi vội vàng dùng Corticoid đơn lẻ trong điều trị nhiễm khuẩn khi chưa khống chế được vi khuẩn gây bệnh.
- Lạm dụng dạng tiêm Corticoid tác dụng dài trong nhiều ngày với các bệnh lý không phải mạn tính.
Một tình huống cụ thể: Người bệnh đau lưng và vai gáy lâu ngày chỉ định dùng Corticoid tác dụng kéo dài (K cor, Depo Medrol, Diprospan...) tiêm trong nhiều đợt. Sau vài tháng xuất hiện các tác dụng bất lợi: tăng đường huyết, loãng xương, nhiễm trùng tái diễn, béo mặt, béo bụng... Tình trạng này không phải là ít, thậm chí gặp, cả với bác sĩ đã từng hành nghề lâu năm.
Bản chất sai lầm ở đây là đánh đổi lợi ích ngắn hạn lấy nguy cơ dài hạn. Corticoid không phải thuốc giảm đau thông thường; đó là thuốc nội tiết can thiệp sâu vào chuyển hoá và ức chế miễn dịch có rất nhiều tác dụng không mong muốn bất lợi.
4. Phối hợp tuỳ tiện các thuốc NSAIDs với nhau hoặc với Corticoid
- Sai lầm ở chỗ phối hợp đồng thời hai hay nhiều NSAIDs hoặc phối hợp NSAIDs với Corticoid mà không hề biết rằng tăng tác dụng chỉ đạt mức độ nhất định nhưng luôn đồng nghĩa với những tai biến có thể nghiêm trọng hơn nhiều lần. Cụ thể xảy ra tai biến nguy hiểm tăng tiết dịch quá mức gây viêm loét thậm chí có thể gây chảy máu dạ dày hay tổn thương đối với thận.
Tình trạng này gặp nhiều trong thực tế, hay xảy ra với những dược sĩ Nhà thuốc (trình độ còn hạn chế lại không chịu cập nhật). Thậm chí tồn tại trong các hội nhóm chuyên môn trên mạng xã hội đã sai còn đăng lên truyền kinh nghiệm phối hợp thuốc cho đồng nghiệp.
Cụ thể 1 ca lâm sàng: Người bệnh đau xương khớp, cho dùng Diclofenac kết hợp với Meloxicam lại còn thêm Methylprednisolon. Sau ít ngày có biểu hiện đau do viêm loét dạ dày và thực tế cũng đã có ca bệnh xảy ra xuất huyết tiêu hoá...
Cần phải lưu ý rằng: Không có khái niệm “phối hợp cộng gộp an toàn” khi nói đến các tác dụng bất lợi của các thuốc NSAIDs và Coriticoid.
5. Không chú ý đến tương tác và tương kỵ khi dùng đồng thời nhiều thuốc
Đây là một trong những lỗi sai lầm hay gặp nhất. Rất nhiều thầy thuốc dùng thuốc không nắm rõ hoặc bỏ qua yếu tố tương tác tương kỵ của thuốc, nhất là với những thuốc mới, thuốc sử dụng lần đầu.
Tình huống lâm sàng điển hình:
- Trộn lẫn Ceftriaxon vào dịch truyền Ringer Lactat dùng cho trẻ sơ sinh, gây tạo tủa tại phổi và thận (không thể nhìn thấy ngay), có thể dẫn đến tử vong ở trẻ sơ sinh.
- Pha trộn lẫn Gentamyxin với Penicillin tiêm (hoặc Cephalosporin) vô tình phạm tương kỵ hoá học gây kết tủa làm mất hoạt tính của thuốc (có thể nhìn thấy rõ ràng)
Bản chất của vấn đề là: Tương kỵ hoá học không gây tai biến ngay lập tức nhưng gây lãng phí thuốc và tài chính, để lại hậu quả bất lợi âm thầm khó lường cho người bệnh.
6. Bỏ qua tương tác do cảm ứng men và ức chế men chuyển hoá thuốc ở gan
- Theo các tài liệu nghiên cứu công bố có khoảng ~ 200 thuốc gây cảm ứng men điển hình là:
+ Kháng sinh nhóm Rifamycin như Rifampicin (rất mạnh), Rifabutin...
+ Các thuốc chống động kinh như Carbamazepine, Phenytoin, Phenobarbital, Primidon...
+ Một số thuốc kháng virus: Ritonavir, Efavirenz, Nevirapine...
- Và cũng rất nhiều thuốc ức chế men chuyẻn hoá thuốc như:
+ Các thuốc kháng nấm nhóm Azole: Ketoconazol, Itraconazol (rất mạnh).
+ Các kháng sinh nhóm Macrolid: Erythromycin... (trừ Azithromycin).
+ Các thuốc ức chế Protease: Ritonavir.
+ Các thuốc chống trầm cảm và an thần kinh: Fluoxetin, Paroxetin, Fluvoxamin...
+ Các thuốc kháng Histamine H2: Cimetidin, Ranitidin... (trừ Nizatidin và Famotidin)
+ Các thuốc ức chế bơm Proton (PPIs): Omeprazol...
Nhưng khi sử dụng phối hợp thuốc, nhiều thầy thuốc gần như bỏ quên hay bỏ qua tác động bất lợi này. Kết quả là thúc đẩy chuyển hoá thuốc quá nhanh khi chưa kịp phát huy tác dụng, hiệu quả đạt được không như mong muốn, có khi lại bị trì trệ chậm chuyển hoá gây tích luỹ thuốc bất lợi không loại trừ tình huống bị ngộ độc thuốc
Xin dẫn 1 tình huống điển hình: Người bệnh động kinh tạm ổn định khi dùng Carbamazepin, sau cho dùng thêm KS Erythromyxin. Biểu hiện ngay sau đó là xuất hiện chóng mặt, nhìn đôi, tăng độc tính thần kinh (do cảm ứng CYP450, gây quá liều nhất thời, tăng độc tính của Carbamazepin).
Như vậy từ đây thấy rõ rằng: Không hiểu về mặt trái bất lợi của các men CYP450 nhưng vẫn phối hợp thuốc tuỳ tiện là “điểm mù” nguy hiểm trong thực hành.
7. Cả nể, chấp thuận chỉ định thuốc theo yêu cầu của người bệnh
Nhiều người bệnh không có chuyên môn chỉ cảm nhận triệu chứng, mà không hiểu đầy đủ tác hại, song yêu cầu thầy thuốc cho dùng thuốc theo mong muốn (tất nhiên là không hợp lý).
Hay gặp nhất tình huống: Người bệnh yêu cầu kháng sinh kèm Corticoid vì “lần trước dùng thấy khỏi nhanh” hoặc một thuốc đã “dùng quen”. Thầy thuốc “chiều theo” để tránh tranh cãi mà không cân nhắc và không căn dặn kỹ cách dùng.
Thực ra điều này gợi cho ta một thông điệp: Chiều người bệnh hôm nay là tạo gánh nặng y tế cho ngày mai.
8. Chỉ định thuốc theo thói quen, theo cảm tính, kinh nghiệm cá nhân
Nhiều thầy thuốc không thường xuyên cập nhật kiến thức mới, chỉ định thuốc, hướng dẫn dùng thuốc theo thói quen, theo cảm tính không chuẩn mực, không chọn lọc thuốc, không cá thể hoá liều dùng căn cứ theo đối tượng, theo cơ điạ người bệnh, không bám sát theo dõi diễn biến bệnh lý.
Việc áp dụng máy móc một “phác đồ ghi nhớ” của cá nhân được lặp lại nhiều năm không cập nhật kiến thức mới có thể không đạt hiệu quả sau một thời gian điều trị hoặc không còn đảm bảo an toàn. Kinh nghiệm có thể rất tốt nhưng lệ thuộc vào “phác đồ cá nhân”, không cập nhật sẽ trở thành lạc hậu, có khi có hại, khi thuốc cũ đã bị kháng, cũng có khi thực tế đã bị loại bỏ do bị ADR nặng nề.
Việc điều trị hiện tại luôn trân trọng thực chứng thì cách làm đó không phù hợp với y học chứng cứ, khó kiểm soát chất lượng điều trị.
9. Lạm dụng kháng sinh sai mục đích cho mọi tình huống và biểu hiện bệnh.
Một thói quen bất lợi rất phố biến đó là cứ có biểu hiện viêm nhiễm là dùng kháng sinh và các thuốc chống viêm (nhất là Alphachymotrypxin) hoặc Corticoid.
Nhiều trường hợp sai lầm điển hình đó là:
- Khi mắc cúm mùa cho dùng kháng sinh, trong khi biết rõ là do virus
- Viêm họng dù biết rằng đa phần (~ 80% trường hợp) là do virus nhưng vẫn dùng kháng sinh phổ rộng trong cả tuần.
Hậu quả: thuốc không mang lại hiệu quả nào mà chỉ làm tăng nguy cơ kháng thuốc.
Mấu chốt ở đây là đã bỏ qua nguyên tắc quan trọng, chỉ sử dụng kháng sinh khi có nhiễm khuẩn
10. Không cập nhật chuyên môn, chỉ tập trung sử dụng những thuốc phổ thông đã lạc hậu:
Nhiều cán bộ y tế không ý thức cập nhật chuyên môn, không học hỏi thêm, không tìm hiểu các tài liệu về thuốc. Tình trạng đó dẫn đến nguồn kiến thức về thuốc mới không đầy đủ, chỉ sử dụng các thuốc đã gặp trong quá khứ, thuốc nhiều người sử dụng hoặc vô tình được biết qua các nguồn thông tin (không đầy đủ, thiếu đồng bộ). Tình trạng này hay xảy ra với các thầy thuốc hành nghề độc lập, hoặc hành nghề tay trái không thường xuyên
Hậu quả là thiếu dữ liệu nguồn thuốc đáp ứng bệnh lý, chỉ định thuốc lạc hậu, thậm chí đã bị đình chỉ lưu hành.
Điều này nhắc nhở mỗi thầy thuốc đang hành nghề muốn đáp ứng yêu cầu khám chữa bệnh và sử dụng thuốc hợp lý an toàn nhất thiết phải luôn cập nhật mới về chuyên môn. Quá khứ là đúng, rất thuyết phục nhưng nay đã sai, đã lạc hậu, có khi không an toàn.
11. Nhầm lẫn giữa các nhóm loại và cơ chế tác dụng của thuốc:
Không ít thầy thuốc hay có sự nhầm lẫn gữa nhóm loại thuốc và vai trò, vị trí tác dụng của chúng:
Một số tình huống cụ thể:
- Coi An cung ngưu hoàng hoàn là thuốc điều trị đột quỵ não tốt nhất, tuy nhiên tác dụng của nó có giới hạn với đột quỵ thể tắc nghẽn mạch não mà tuyệt đối không được dùng cho tai biến não thể chảy máu, vỡ mạch hay dùng dự phòng.
- Corticoid nhầm lẫn cho rằng là thuốc giảm đau trong khi nó chỉ có tác dụng giảm viêm (và số ít tác dụng khác mà không có cơ chế giảm đau), giảm đau chỉ là hệ quả sau khi giảm phản ứng viêm
- Nhầm lẫn gọi chung và dùng chung men tiêu hoá (Enzyme) với men vi sinh (Probiotic), trong khi 2 nhóm thuốc này nguồn gốc và cơ chế hoàn toàn khác và không thể dùng thay thế cho nhau.
- Một vài tình huống khác mà nhiều thầy thuốc nhầm lẫn:
+ Chỉ định chồng chéo các thuốc có tên khác nhau nhưng cùng tác dụng, cùng cơ chế (thậm chí có trường hợp lại cùng hoạt chất) gây tương tác bất lợi hay tác dụng phụ quá mức.
+ Cho rằng Ketoconazol có tác dụng điều trị nấm toàn thân, nhưng thực ra nó chỉ tác dụng tại da. móng, tóc.
+ Coi Aspirin là thuốc chống đông, nhưng bản chất của nó chỉ là thuốc chống tập kết tiểu cầu
+ Nhầm lẫn thuốc kháng Histamin H1 thế hệ 1 có tác dụng phụ gây ngủ nhẹ là thuốc ngủ; hay Cyproheptadin gây cảm giác thèm ăn nhất thời là thuốc kích thích tăng dưỡng...
Hậu quả là: vô tình sử dụng các thuốc không đúng cơ chế, bản chất dùng cho bệnh mà nó không có tác dụng, vừa không hiệu quả vừa tốn kém và mất thời cơ vàng trong điều trị.
12. Ngoài ra còn thấy một số sai lầm, thiếu sót phổ biến khác:
Các sai lầm thiếu sót này không thuộc về tư duy và kiến thức chuyên môn, nhưng cũng ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả và tính an toàn trong chỉ định sử dụng thuốc.
Đôi khi xảy ra:
- Không tư vấn đầy đủ về phản ứng có hại của thuốc (ADR) và dấu hiệu cần ngừng thuốc.
- Lạm dụng thuốc tiêm, dịch truyền khi vẫn có thể dùng đường uống bình thường.
- Bỏ qua không giám sát và nhắc nhở yếu tố tuân thủ điều trị của người bệnh.
- Không có sự phối hợp hiệu quả giữa BS và dược sĩ. Nhiều BS bỏ qua ý kiến của dược sĩ lâm sàng.
- Lạm dụng sử dụng thực phẩm chức năng trong nhiều trường hợp điều trị (có cả việc lợi dụng)
- Một số thiếu sót khác cũng rất phổ biến, nhưng thực chất không do tư duy chuyên môn mà là cẩu thả trong công viêc như: kê đơn thiếu thông tin, chữ viết vô tình hay cố ý không rõ ràng, khó đọc, không đầy đủ tên thuốc, nhầm lẫn tên thuốc, nhầm lẫn liều lượng...
III. NHỮNG VẤN ĐỀ NỔI CỘM TRONG GIẢNG DẠY DẪN TỚI SAI LẦM KHI THỰC HÀNH LÂM SÀNG
Thực trạng những sai lầm thiếu sót trong thực tiễn chỉ định thuốc và sử dụng thuốc đều chỉ ra rằng: Nhiều sai lầm trong thực hành nghề y dược không ngẫu nhiên hình thành ở tuyến điều trị, mà có thể bắt nguồn từ cách dạy, cách học, cách truyền đạt tư duy chuyên môn của cả thầy và trò trong đào.
1. Giảng dạy thiên về tên thuốc, thiếu nhấn mạnh cơ chế bệnh sinh và cơ chế tác dụng
Đó là:
- Người học nặng về học thuộc danh mục thuốc, biệt dược, các tác dụng cụ thể. Ít chú ý, thậm chí là không tư duy, phân tích mối liên hệ giữa cơ chế bệnh, bản chất và cơ chế tác dụng của thuốc, từng tình huống cụ thể. Từ đó người học không biết đúng sai ở đâu khi dùng thuốc.
- Kết quả sau đào tạo là: Người học vào nghề sau này kê đơn theo "thuốc quen dùng" thay vì gắn kết cơ chế thuốc cơ chế bệnh. Thậm chí dùng thuốc máy móc không biết cơ chế bệnh thế nào, từng thuốc cụ thể có tác dụng ra sao, nhằm vào đâu...
Cho nên một nguyên tắc không thể bỏ qua là: Dạy về thuốc và dùng thuốc mà không lưu ý nhấn mạnh ghi nhớ bản chất, cơ chế, chỉ để sinh viên “học thuộc lòng, học mót” cứng nhắc thì thực tế
chỉ là đào tạo “thợ” kê đơn, “thợ cấp phát” thuốc mà thực chất không phải cán bộ y tế.
2. Truyền đạt phác đồ theo khuôn mẫu cứng nhắc, thiếu tư duy tình huống và điều kiện áp dụng
Điều này thực ra là:
- Hướng dẫn cách dùng hay phác đồ dùng thuốc, phác đồ điều trị được trình bày cứng nhắc như một công thức bất biến.
- Chỉ thuyết giảng, hướng dẫn qua loa hay không chỉ rõ tình huống nào có thể, tình huống nào không thể, tình huồng nào phải tuỳ biến mà không được máy móc áp dụng.
Hệ quả là học viên sẽ “vô thức” hình thành tư duy không hợp lý ngay từ khi ngồi học: áp dụng máy móc, bỏ qua việc cá thể hoá điều trị.
Do vậy thầy và trò luôn cần dành cho nhau tư duy bất biến đó là: Phác đồ không phải “mệnh lệnh tuyệt đối” mà đó chỉ là “bộ khung” cho một chuỗi hoạt động, tuân thủ cần tư duy có điều kiện, cần linh hoạt vận dụng trên cơ sở các nguyên tắc chung về thuốc và bệnh.
3. Thầy cô “né tránh hoặc xem nhẹ” các nội dung phức tạp “khó diễn đạt, khó hiểu” nhưng đó lại là kiến thức cốt lõi
Thực trạng: Các nội dung thường bị giản lược hoặc bỏ qua đó là:
- Các cơ chế tác dụng của thuốc có nhiều thuật ngữ khó đọc khó nhớ, nhiều chặng, nhiều hướng dài dòng, phức tạp.
- Tương tác, tương kỵ của thuốc (đặc biệt là các trường hợp gây hậu quả nặng nề) .
- Hiện tượng cảm ứng hay ức chế các men chuyển hoá ở gan (CYP450) và thuốc liên qaun gây bất lợi ra sao.
Hậu quả là người học “làm sai mà không sợ sai” lúc thực hành vì khi học chưa từng được cảnh báo đầy đủ và đúng mức.
Mọi điều chỉ, dạy không rõ ràng thường chính đó là điều dễ bỏ qua gây tai biến.
4. Lấy kinh nghiệm cá nhân thay cho y học chứng cứ
- Có thể có một số thầy cô vô tình chia sẻ theo cách “tôi thường dùng”, hay “thường làm như vậy nhiều năm không sao” mà không nghĩ rằng kinh nghiệm cá nhân chỉ có giá trị đúng và chính xác khi được đối chứng bằng các căn cứ khoa học tin cậy. Từ đó chính thầy cô bỏ qua việc đi sâu hướng dẫn những bất cập có tính căn cơ.
Hậu quả là người học nghe theo kinh nghiệm (thiếu chuẩn) của thầy cô, vô tình hợp thức hoá thực hành sai lệch.
5. Truyền đạt tâm lý chiều khách, “chiều bệnh nhân để yên chuyện”
- Biện minh, truyền đạt tâm lý “chiều khách” chấp nhận làm không đúng nguyên tắc chuyên môn. Tình trạng chỉ định dùng kháng sinh, corticoid, thuốc chống viêm Alphachymotrypxin hoặc các thuốc dùng quen “rất tốt” vô điều kiện theo yêu cầu người bệnh là ngẫu nhiên truyền đạt méo mó nguyên tắc sử dụng thuốc và yêu cầu trong hành nghề.
Hậu quả là người học vô tình hình thành chuẩn mực nghề nghiệp bị định hướng lệch lạc.
Cần phải khẳng dịnh rằng dạy cách chỉ định thuốc “chiều” theo yêu cầu của người bệnh là dạy cách làm hỏng hệ thống y tế.
6. Cũng có thể do mô hình đào tạo thiếu phối hợp liên chuyên môn trong giảng dạy
Đó là tình trạng thiếu liên kết về các khối kiến thức:
- Bác sĩ chỉ chú trọng lâm sàng và xử lý, dạy tách rời vai trò dược sĩ.
- Dược sĩ dạy thiếu quan tâm tới sự gắn kết cơ chế thuốc, bệnh và bối cảnh lâm sàng.
Hậu quả là người được đào tạo nếu không đủ năng lực, không bỏ công sức tự hệ thống kết nối hay liên kết kiến thức chuyên môn sẽ thiếu kiến thức phản biện chéo, dễ xảy ra sai sót.
Do vậy sai lầm gây ra thất bại trong chỉ định thuốc chính là tách rời sự liên kết giữa cơ chế, tính chất thuốc với cơ chế bệnh lý và tính cá thể người bệnh.
IV. ĐỊNH HƯỚNG KHẮC PHỤC
1. Về phiá thầy thuốc:
- Cần tham gian các khoá đào tạo liên tục về sử dụng thuốc an toàn, hợp lý, tham gia các hội thảo, các hội nhóm hỗ trợ về chuyên môn trong đó cần chú trọng gắn kết kiến thức y và dược đi đôi bám sát dược lâm sàng. Mặt khác, bản thân người học phải tự tìm hiểu, cập nhật thường xuyên kiến thức khi mà nó luôn thay đổi. Tốt nhất YBS cần nắm chắc về chủng loại, bản chất và cơ chế thuốc, DS lâm sàng tại cơ sở điều trị và bán lẻ thuốc cần nắm chắc về nguyên nhân và cơ chế bệnh.
- Tuân thủ các phác đồ chuẩn hoá theo hướng dẫn, luôn tôn trọng bám sát y học chứng cứ và tính linh hoạt trong thực hiện phác đồ.
- Nhận thức đúng và nâng cao vai trò phản biện chuyên môn của dược sĩ trong kê đơn, chỉ định thuốc. Tuân thủ qui định về công tác dược lâm sàng ở các cơ sở có bố trí.
- Tư vấn và nhắc nhở người bệnh, giảm áp lực “kê thuốc theo yêu cầu” không chuẩn mực.
2. Về phiá đào tạo trong Nhà trường:
- Trong đào tạo y dược, bất kể trong môn học chuyên môn nào, điều kiện nào người học cũng cần phải nắm chắc bản chất, nắm chắc cơ chế, luôn phải có tư duy gắn kết cơ chế bệnh, cơ chế thuốc trong tất cả mọi trường hợp sử dụng thuốc. “Không học thuộc lòng, không học mót máy móc” khi mà không hiểu vai trò, cơ chế của thuốc, của bệnh ra sao.
- Cán bộ giảng dạy lĩnh vực dược bám sát dược lâm sàng, tương tác thuốc và gắn kết cơ chế giữa thuốc và bệnh làm nội dung trọng tâm trong giảng dạy và học chuyên môn dược.
TÓM LẠI:
Những sai lầm trong chỉ định và tư vấn sử dụng thuốc không chỉ là vấn đề ở mỗi cá nhân mà luôn mang tính hệ thống trong thực hành y, dược. Tuy nhiên trong phạm vi nhất định nó phụ thuộc không nhỏ và liên quan trực tiếp đến cách thức cũng như chất lượng ngay từ khâu đào tạo.
Việc nhận diện, phân tích và khắc phục các sai lầm này là việc thiết thực với mọi cán bộ y tế. Đặc biệt ở môi trường giảng dạy, mỗi thầy cô cần là những người dẫn dắt đúng hướng dẫn tới mục tiêu sử dụng thuốc an toàn, hợp lý và hiệu quả cho cộng đồng.
Vai trò của thầy cô trong đào tạo có ảnh hưởng rất lớn, lan tỏa đến thực hành lâm sàng sau này
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1. Dược lâm sàng những nguyên lý cơ bản và sử dụng thuốc trong điều trị. Chủ biên GS.TS Hoàng Thị Kim Huyền, GS.TS J.R.B.J Brouwers và cộng sự thuộc dự án NPT - VNM 240. NXB Y học năm 2014. chương 4, 5, 6, 7 (trang 87 - 186)
2. Một số nguy cơ trong sử dụng thuốc dễ bị bỏ sót; đăng trên Website Trung tâm DI và ADR quốc gia. Bài viết có đường dẫn: https://magazine.canhgiacduoc.org.vn/Magazine/Details/216?fbclid
3. BS. Nguyễn Hữu Trường; Dự phòng các sai sót trong dùng thuốc; đăng trên Website bệnh viện Bạch Mai và báo Sức khoẻ đời sống. Bài viết có đường dẫn:
https://bachmai.gov.vn/bai-viet/du-phong-cac-sai-sot-trong-dung-thuoc?
4. Thực trạng viêc kê đơn thuốc điều trị ngoại trú cho bệnh nhân tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108, đăng trên Website của Viện nghiên cứu khoa học y dược lâm sàng 108; có địa chỉ đường dẫn: https://tcydls108.benhvien108.vn/index.php/YDLS/article/view/892
5. DSCKI Trần Đình Bách; Những điều cơ bản khi dùng thuốc trị bệnh không phải ai cũng biết; đăng trên Website báo Sức khoẻ đời sống, đăng lại trên Website Sở y tế Thanh Hoá và Cổng thông tin TP Hồ Chí Minh. Bài viết có đường dẫn: https://suckhoedoisong.vn/nhung-dieu-co-ban-khi-dung-thuoc-tri-benh-khong-phai-ai-cung-biet-169230723163350435.htm
Việc mô tả tất cả các nguy cơ liên quan đến việc sử dụng thuốc có thể dẫn đến lỗi liên quan đến thuốc gây tai biến cho bệnh nhân gần như không thể thực hiện được. Thực tế này gây khó khăn cho việc cải thiện an toàn trong sử ...