09/06/2026
Hướng dẫn mới của Hội tuyến giáp Hoa Kỳ năm 2026 về kiểm soát bệnh tuyến giáp trước và trong thời gian mang thai, và sau khi sinh
Guideline mới công bố ngày 31/ 5/ 2026 cập nhật các bằng chứng mới và có nhiều hướng dẫn thay đổi thực hành lâm sàng. Xin tóm tắt 12 điểm quan trọng nhất là:
1. Thay đổi về chỉ định sàng lọc bệnh tuyến giáp khi mang thai
• ATA 2026 đã cập nhật lại danh sách yếu tố nguy cơ. Cụ thể là loại bỏ một số yếu tố nguy cơ cũ, không còn nhấn mạnh các yếu tố tuổi mẹ cao, số lần sinh hay BMI tăng vì khả năng phân tầng nguy cơ thấp.
• Tuy nhiên có bổ sung thêm các yếu tố nguy cơ mới, ví dụ:
o điều trị miễn dịch ung thư gần đây (thuốc ICI)
o thuốc ảnh hưởng tuyến giáp
o tiền sử chiếu xạ vùng đầu cổ
o thiếu iod nặng
o hội chứng Down, hội chứng Turner.
2. Không điều trị levothyroxine cho phụ nữ TPOAb (+) nhưng bình giáp
Đây là thay đổi lớn nhất của hướng dẫn. Trước đây, nhiều bác sĩ thường kê levothyroxine cho:
• TPOAb (+)
• TSH bình thường
• vô sinh
• thất bại hỗ trợ sinh sản
• sảy thai tái diễn
ATA 2026 khuyến cáo mạnh: Không sử dụng levothyroxine ở phụ nữ TPOAb (+) hoặc TgAb (+) nhưng bình giáp để cải thiện khả năng có thai hoặc kết cục thai kỳ.
Lý do: Ba thử nghiệm ngẫu nhiên chất lượng cao (TABLET, T4LIFE và các nghiên cứu khác) cho thấy levothyroxine không cải thiện tỷ lệ có thai, sinh sống hay giảm sảy thai.
Ý nghĩa thực hành: Giảm đáng kể tình trạng điều trị quá mức và kê levothyroxine kéo dài không cần thiết
3. TSH > 2,5 mU/L không còn đồng nghĩa phải điều trị
• Trước đây, mức TSH > 2,5 mU/L trong 3 tháng đầu thường được xem là bất thường
• ATA 2026 nhấn mạnh phải sử dụng khoảng tham chiếu TSH và FT4 theo quần thể địa phương nếu có. Nếu không có thì sử dụng ngưỡng trên của TSH khoảng 4,0 mU/L
• Do đó TSH = 3–4 mU/L đơn thuần không còn là chỉ định tự động để dùng levothyroxine.
4. Có thể xác nhận lại xét nghiệm trước khi điều trị suy giáp mới phát hiện
• Điểm mới rất thực tế. Nếu mới phát hiện tăng TSH mà TSH không quá cao và BN không có triệu chứng thì có thể lặp lại xét nghiệm trong vòng khoảng 3 tuần trước khi quyết định điều trị vì một số phụ nữ có TSH sẽ trở về mức bình thường.
• Điều này giúp tránh chẩn đoán quá mức và điều trị quá mức
5. Tránh điều trị levothyroxine quá liều
• ATA 2026 lần đầu tiên nhấn mạnh rõ rang Levothyroxine quá liều cũng có hại. Các nghiên cứu theo dõi cho thấy trẻ có thể tăng nguy cơ rối loạn hành vi hoặc tăng triệu chứng giống tăng động giảm chú ý (ADHD) khi mẹ bị điều trị quá mức.
• Do đó nên duy trì mục tiêu TSH trong giới hạn bình thường, không cố gắng ép TSH về rất thấp
6. Chỉ dùng levothyroxine đơn thuần trong thai kỳ
• ATA 2026 nhấn mạnh không sử dụng Liothyronine (LT3), Desiccated thyroid extract hay các chế phẩm phối hợp T4/T3 cho phụ nữ mang thai.
• Trong thực hành, nếu bệnh nhân đang dùng T3 hay T4/T3 phối hợp thì nên chuyển sang levothyroxine trước khi mang thai.
7. Trong Basedow: ưu tiên ổn định bệnh trước khi có thai
• ATA 2026 nhấn mạnh mục tiêu trước khi có thai là phải đạt bình giáp ổn định với ít nhất 2 lần xét nghiệm bình thường cách nhau ≥ 6 tuần.
• Điều này có nghĩa không nên cho phép mang thai ngay khi mới chẩn đoán Basedow hay mới điều chỉnh thuốc
8. Chuyển Methimazole sang PTU khi chuẩn bị mang thai
• Khuyến cáo 2026 nhấn mạnh những phụ nữ đang dùng Methimazole và chuẩn bị có thai thì nên nên chuyển sang PTU trước khi thụ thai.
• Ý nghĩa là để giảm nguy cơ thai bị các dị tật liên quan Methimazole trong giai đoạn hình thành cơ quan thai nhi.
9. Vai trò của TRAb trở nên quan trọng hơn
• ATA 2026 dành nhiều nội dung cho các xét nghiệm TRAb và TSI trong đánh giá nguy cơ cường giáp thai nhi.
• Thực hành: Cần định lượng TRAb trước và trong thai kỳ ở các sản phụ Basedow đang điều trị hay đã phẫu thuật hay đã điều trị I-131.
• Không nên chỉ nhìn FT4 của mẹ vì FT4 mẹ bình thường nhưng thai vẫn có thể bị cường giáp do TRAb cao.
10. Quan điểm mới về nhân giáp và ung thư tuyến giáp trong thai kỳ
• Đây là thay đổi tư duy quan trọng. Trước đây có xu hướng can thiệp sớm.
• Khuyến cáo ATA 2026 nhấn mạnh đa số ung thư tuyến giáp biệt hóa tiến triển rất chậm và tiên lượng không khác nếu trì hoãn điều trị đến sau sinh.
• Thực hành: Phần lớn trường hợp ung thư tuyến giáp ở phụ nữ mang thai có thể theo dõi và trì hoãn phẫu thuật đến sau sinh là hợp lý.
11. Không sử dụng iod niệu (UIC) để đánh giá thiếu iod ở từng bệnh nhân
• ATA 2026 nhấn mạnh UIC chỉ có giá trị trong các nghiên cứu dịch tễ và đánh giá đánh giá quần thể, nó không có giá trị để kết luận một thai phụ cụ thể có thiếu iod hay không.
• Thực hành: Cần khai thác chế độ ăn, sử dụng sử dụng muối iod và bổ sung vitamin thai kỳ chứa iod quan trọng hơn đo iod niệu đơn lẻ.
• Khuyến cáo bổ sung iod, với tổng lượng iod là 250 µg/ngày. Cụ thể bổ sung 150 µg/ngày, bắt đầu lý tưởng ≥ 3 tháng trước khi mang thai.
12. Khuyến cáo mới về cho con bú sau gây mê: Đây là điểm hoàn toàn mới.
• ATA 2026 dẫn các hướng dẫn gây mê mới, khuyến cáo sau phẫu thuật, sản phụ có thể cho con bú ngay khi tỉnh táo đủ để bế em bé, không còn khuyến cáo vắt bỏ sữa 24 giờ sau gây mê.
Nguồn: FB Bs Nguyễn Quang Bảy.